Soạn bài Thực hành đọc hiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông SGK Ngữ văn 11 tập 2 Cánh diều - chi tiếtĐọc trước văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phần 1 miêu tả dòng sông Hương ở đâu? Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Nội dung chính
Trước khi đọc Câu 1 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Đọc trước văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phương pháp giải: Chú ý lựa chọn thông tin phù hợp, phục vụ cho việc đọc hiểu. Lời giải chi tiết: Cách 1 * Tác giả: + Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sau khi học hết bậc trung học ở Huế, ông lần lượt trải qua: + Năm 1960: tốt nghiệp khóa I ban Việt Hán, Đại học Sư phạm Sài Gòn. + Năm 1964: nhận bằng Cử nhân triết Đại học Văn khoa Huế. + Năm 1960 - 1966: dạy tại trường Quốc Học Huế. + Năm 1966 - 1975: thoát ly gia đình để lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng hoạt động văn nghệ. + Năm 1978: được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. - Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. * Tác phẩm chính - Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông (1986), Bản di chúc của cỏ lau (1984), Ngọn núi ảo ảnh (1999),... * Phong cách nghệ thuật - Là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. - Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
* Tác giả: + Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9 tháng 9 năm 1937, tại thành phố Huế, nhưng quê gốc ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. - Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. * Tác phẩm chính - Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông (1986), Bản di chúc của cỏ lau (1984), Ngọn núi ảo ảnh (1999),... * Phong cách nghệ thuật - Là một trong những nhà văn chuyên về bút kí. - Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý... - Tên Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937. - Quê quán: Huế. - Quá trình hoạt động văn học, kháng chiến . + Ông học tại Huế hết bậc Trung học, tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Sài Gòn năm 1960 và trường Đại học Huế năm 1964. + Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát li lên chiến khu, tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng hoạt động văn nghệ. + Ông từng là Tổng thư kí Hội văn học nghệ thuật Trị Thừa – Thiên, Chủ tịch Hội Văn học Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. + Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. - Phong cách nghệ thuật: + Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí… + Lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Trong khi đọc 1 Câu 1 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Phần 1 miêu tả dòng sông Hương ở đâu? Phương pháp giải: Đọc kỳ phần 1, chú ý chi tiết miêu tả vị trí dòng sông Hương. Lời giải chi tiết: Cách 1 Dòng sông Hương được miêu tả khi ở rừng già, mang vẻ đẹp huyền bí, hoang sơ
Xem thêm
Cách 2
Phần 1 miêu tả sông Hương ở thượng nguồn
Xem thêm
Cách 2
Trong khi đọc 2 Câu 2 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nhà văn đã hình dung về sông Hương như thế nào trước khi nó chảy ra thành phố Huế? Phương pháp giải: Đọc kỳ phần 2, chỉ ra chi tiết miêu tả sông Hương sau khi chảy ra khỏi rừng già. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Hình dung về sông Hương trước khi chảy ra thành phố Huế: + ...sông Hương đã chuyển mình một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm,... → Trước khi chảy ra thành phố Huế, sông Hương uốn lượn như một tấm lụa mềm mại, mang nét đẹp trù phú mang bao nhiêu phù sa từ rừng già xuống.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
...sông Hương đã chuyển mình một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm,... Nhà văn đã hình dung về sông Hương như một người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Trong khi đọc 3 Câu 3 (trang 71, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Đặc điểm của sông Hương khi chảy trong lòng thành phố Huế là gì? Phương pháp giải: Đọc kỳ phần 3, chỉ ra chi tiết miêu tả sông Hương khi chảy trong lòng thành phố. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Đặc điểm khi chảy trong lòng thành phố: ...chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu nhà hát... → Sông Hương mang vẻ đẹp tình tứ, duyên dáng, vui tươi.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
...chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày hoặc trên sân khấu nhà hát... Lúc qua thành phố Huế, sông Hương trôi đi thực chậm, chảy lặng lờ như điệu slow. Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Trên sông vọng lại tiếng hát trong một khoang thuyền nào đó. Sông Hương mang vẻ đẹp vừa trữ tình, vừa trầm mặc gắn liền với lịch sử bi tráng của dân tộc mà trên thế giới không có dòng sông nào như thế. Và trước về với biển sông Hương lưu luyến tình cảm với thành phố Huế ví như nỗi vấn vương của nàng Kiều với Kim Trọng.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Trong khi đọc 4 Câu 4 (trang 71, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý chi tiết thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi”. Phương pháp giải: Đọc kĩ phần 3, chỉ ra chi tiết, từ ngữ bộc lộ cảm xúc. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Chi tiết thể hiện tình cảm, cảm xúc: + ...Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại... + ...ôi, tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển. Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. + ...Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
+ ...Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại... + ...ôi, tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển. Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. + ...Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố... Các chi tiết thể hiện tình cảm, cảm xúc của nhân vật tôi: - Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đây, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grat đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại, ôi, tôi muốn làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thủy tinh để đi ra biển. - ...chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố...
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Trong khi đọc 5 Câu 5 (trang 72, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nét độc đáo của sông Hương sau khi rời khỏi thành phố Huế là gì? Phương pháp giải: Đọc kĩ phần 3 đoạn cuối, chỉ ra chi tiết thể hiện sông Hương khi rời khỏi thành phố. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Nét độc đáo: + ...Đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ... → Nét độc đáo đó là sau khi đã rời khỏi thành phố, sông Hương đột nhiên đổi dòng để gặp lại thành phố một lần nữa.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Nét độc đáo đó là sau khi đã rời khỏi thành phố, sông Hương đột nhiên đổi dòng để gặp lại thành phố một lần nữa. Nét độc đáo của sông Hương sau khi rời khỏi kinh thành Huế là dòng sông không chảy qua tỉnh khác luôn mà đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.
Xem thêm
Cách 2
Cách 3
Trong khi đọc 6 Câu 6 (trang 73, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Sông Hương hiện lên như thế nào qua các thời kỳ lịch sử? Phương pháp giải: Đọc kĩ phần 4 đoạn đầu, tìm những chi tiết miêu tả sông Hương qua các thời kỳ lịch sử của đất nước. Lời giải chi tiết: Cách 1 Sông Hương là chứng nhân lịch sử, chứng kiến mọi biến cố của Huế.
Xem thêm
Cách 2
Sông Hương là chứng nhân lịch sử, gắn bó với mọi biến cố của Huế (dòng sông biên thùy thời vua Hùng, dòng sông viễn châu oanh liệt thời trung đại, dòng sông vẻ vang thời Nguyễn Huệ, dòng sông bi tráng thời kì cách mạng tháng Tám).
Xem thêm
Cách 2
Trong khi đọc 7 Câu 7 (trang 73, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng để khắc họa sông Hương. Phương pháp giải: Đọc kĩ phần 4, gợi nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ để tìm ra biện pháp tác giả sử dụng. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Biện pháp tu từ nhân hóa “thời gian ngân vang; sử thi viết, nắng đem ra phơi” → Khắc họa hình ảnh sông Hương gắn bó với thời kỳ lịch sử dân tộc.
Xem thêm
Cách 2
Các biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, liệt kê.
Xem thêm
Cách 2
Trong khi đọc 8 Câu 8 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Ở đoạn cuối này, sông Hương đã được nhìn nhận từ khía cạnh nào? Phương pháp giải: Đọc kĩ phần 5, tìm ra chi tiết thể hiện miêu tả sông Hương từ phía nào? Lời giải chi tiết: Cách 1 - Sông Hương được nhìn nhận từ phía thơ ca. → Thể hiện sông Hương là cái nôi của âm nhạc Huế.
Xem thêm
Cách 2
Ở đoạn cuối này, sông Hương đã được nhìn nhận từ khía cạnh thơ ca.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nhận xét về nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông và nêu bố cục của bài viết Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bài, nêu nhận xét về nhan đề và nêu bố cục Lời giải chi tiết: Cách 1 - Nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông là một câu hỏi, đây là một nét độc đáo rất riêng của nhà văn, nhằm hướng người đọc biết về nội dung tác phẩm đó là “đi tìm nguồn gỗ của dòng sông Hương”. Qua đó nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của dòng sông Hương, thể hiện lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy. - Bố cục: + Phần 1 (từ đầu đến “quê hương xứ sở”): Thủy trình của sông Hương + Phần 2 (còn lại): Vẻ đẹp lịch sử, văn hóa và thi ca của sông Hương
Xem thêm
Cách 2
Nhan đề là một câu hỏi, đây là một nét độc đáo rất riêng của nhà văn, nhằm hướng người đọc biết về nội dung tác phẩm đó là “đi tìm nguồn gỗ của dòng sông Hương”, qua đó nhấn mạnh đến vẻ đẹp huyền thoại của dòng sông Hương, thể hiện lòng biết ơn đến những con người khai phá vùng đất ấy. - Bố cục: + Phần 1 (từ đầu đến “quê hương xứ sở”) + Phần 2 (còn lại)
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 74, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hãy khái quát đặc điểm hình tượng sông Hương trong văn bản trên theo bảng hướng dẫn sau: ![]() Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bài, dựa vào bố cục của văn bản để tìm ra đặc điểm điền vào bảng. Lời giải chi tiết:
Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 75, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Qua việc khắc họa hình ảnh sông Hương, nhà văn thể hiện tình cảm thái độ gì với quê hương xứ sở? Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bài, dựa vào nội dung và những chi tiết bộc lộ cảm xúc của tác giả để rút ra tình cảm thái độ của tác giả với quê hương, xứ sở. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Thể hiện tình cảm, cảm xúc yêu mến của tác giả cho dòng sông Hương cùng thiên nhiên và con người nơi đây. + Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nàng đem áo ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa: màu áo lục điều với loại vải vân thưa màu xanh tràm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. + Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ.
Xem thêm
Cách 2
Sông Hương khi chảy vào thành phố có nét đẹp riêng: - Nếu ở trên, người đọc cảm nhận phần nào vẻ đẹp man dại, dịu dàng, trầm mặc của con sông, thì giờ đây con sông được khám phá, phát hiện ở sắc thái tâm trạng. Sông Hương gặp thành phố như đến với điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi và đặc biệt chậm rãi, êm dịu, mềm mại. - Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đến bất ngờ, lý thú, thể hiện tình yêu say đắm với con sông. Đó là những nét bút thật “dịu dàng, tình tứ, đắm đuối", “chiếc cầu trắng ở thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một vầng trăng non", sông Hương “uốn một cành cũng rất nhẹ sang cồn Hiến", đường cung ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng" không nói ra của tình yêu, “nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh" làm dòng sông thêm lộng lẫy, con sông ngập ngừng như có “những vấn vương của một nỗi lòng, không nỡ rời xa thành phố...". Quả đúng như câu thơ của Thu Bồn: Con sông dùng dằng, con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu. -> Tác giả dành tình cảm yêu mến đặc biệt cho con sông này, thấu hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp của dòng sông.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 75, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hãy chỉ ra và làm sáng tỏ đặc điểm tùy bút thể hiện qua văn bản này (cái "tôi" độc đáo, sự kết hợp tự sự và trữ tình, ngôn ngữ giàu chất thơ) Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bài, tìm ra yếu tố tự sự và trữ tình thể hiện trong văn bản, qua việc kết hợp đó thể hiện tác dụng gì với nội dung của văn bản. Lời giải chi tiết: Cách 1 - Tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình trong việc khắc hoạ hình tượng sông Hương và thể hiện cảm xúc của nhân vật “tôi” được thể hiện rõ nét qua đoạn văn tiêu biểu trong văn bản miêu tả lại vẻ đẹp của con sông Hương từ khi ở Thượng Nguồn đến khi chảy qua Huế. + Việc miêu tả sông Hương ở nhiều phương diện đã cho thấy sự quan sát tinh tế và tình yêu thương của tác giả với nơi đây. + Chất trữ tình được vận dụng rõ nét bởi sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Xem thêm
Cách 2
- Tác dụng: + Việc miêu tả sông Hương ở nhiều phương diện đã cho thấy sự quan sát tinh tế và tình yêu thương của tác giả với nơi đây. + Chất trữ tình được vận dụng rõ nét bởi sự kết hp hài hòa giữa thiên nhiên và con người.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 75, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Qua văn bản người viết gửi đến bạn đọc thông điệp gì? Hãy nêu lên giá trị văn hóa mà em hiểu được từ văn bản. Phương pháp giải: Đọc kĩ toàn bài, nêu quan điểm cá nhân của bản thân về thông điệp và giá trị văn hóa em hiểu được. Lời giải chi tiết: Cách 1 Tác giả đã tô đậm cho con sông Hương ấy bao nét thơ thật dịu dàng, thơ mộng mà hoang dã, đa tình, lịch lãm và cổ kính. Từ góc độ văn hóa truyền thống lịch sử tác giả cũng đã khắc họa sông Hương với nét tính cách đặc biệt qua đó cũng tái hiện lại cho bạn đọc những hình ảnh trong lịch sử và gắn liền với những phẩm chất rất riêng của người Huế. Mà đặc biệt hơn là vẻ đẹp của người con gái Huế luôn nhẹ nhàng, bay bổng mà rất đằm thắm.
Xem thêm
Cách 2
Tái hiện lại cho bạn đọc những hình ảnh trong lịch sử và gắn liền với những phẩm chất rất riêng của người Huế. Mà đặc biệt hơn là vẻ đẹp của người con gái Huế luôn nhẹ nhàng, bay bổng mà rất đằm thắm.
Xem thêm
Cách 2
Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 75, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Văn bản đem lại cho em suy nghĩ gì trong việc nhìn nhận vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên quê hương mình? Hãy viết về một cảnh đẹp của quê hương em bằng một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng). Phương pháp giải: Từ cách miêu tả của tác giả, liên hệ với cảnh đẹp quê hương em và trình bày thành đoạn văn ngắn. Lời giải chi tiết: Cách 1 Quê hương em là một thành phố nhỏ nhưng rất rực rỡ và đầy màu sắc với rất nhiều cảnh đẹp. Cứ mỗi dịp lễ là nơi đây lại rộn ràng tấp nập bởi du khách bốn phương đến ghé thăm. Nơi tạo nên sức hút ấy chính là bãi biển tuyệt đẹp mang tên bãi biển Đồ Sơn. Nơi đây là một vùng biển rộng và thoáng đãng. Cũng như những vùng biển khác, ở Đồ Sơn có bãi cát vàng mịn trải rộng, có dòng nước biển xanh trong vắt, mát lạnh, có những hàng cây xanh mướt mắt chạy dọc theo bờ cát. Nhưng chỉ như thế thì vẫn chưa phải là tất cả. Du khách đến với bãi tắm còn là để chiêm ngưỡng bãi đá thú vị ở nơi đây. Dọc theo bãi cát vàng đến xuống dưới nước biển, là rất nhiều những tảng đá, mỏm đá với hình thù khác nhau nằm rải rác. Những tảng đá ấy tạo nên một thạch trận kì quái cho mọi người leo trèo, chụp ảnh. Chính chúng đã tạo nên sức hút kì thú cho vùng biển này. Em rất yêu thích bãi biển của quê hương mình. Bởi nhờ nó mà quê hương em có một dấu ấn trong lòng du khách tứ phương, và nó cũng giúp cho kinh tế địa phương thêm phần phát triển hơn.
Xem thêm
Cách 2
Tuyên Quang - quê hương em là một vùng đất rộng lớn với nhiều cảnh quan đa dạng và đẹp mê hồn. Một trong những cảnh đẹp mà em yêu thích nhất ở đây chính là thác Na Hang. Khi đến thác Na Hang, chúng ta sẽ được chứng kiến những dòng nước trong vắt cùng với những cánh rừng xanh bát ngát khiến mình cảm thấy như đang đứng giữa thiên nhiên hoang sơ và yên bình. Những vách đá trùng điệp như xây chắc vững giữa dòng nước, mỗi giọt nước rơi xuống vực thẳm đều tạo ra âm thanh tuyệt vời như một dàn nhạc thiên nhiên. Những thác nước cao, nhìn mãi không thấy đỉnh. Đứng phía dưới ngắm lên, những thác nước như những giọt nước mắt không lồ của trời cao đang chảy xuống. Bầu trời trong xanh và nắng rọi tràn ngập tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp khiến em muốn đắm chìm vào đó mãi mãi. Cảm giác thích thú và hạnh phúc khi được đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp của quê hương mình luôn là điều mà em không thể quên được.
Xem thêm
Cách 2
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông
+
Ai đã đặt tên cho dòng sông (trích) Hoàng Phủ Ngọc Tường [...] Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ em đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đay, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu tháu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chan núi Kim Phụng. Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đày hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén ; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong du vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sùng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tám lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chi bé vừa bằng con thôi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lỗ xô ấy, là giác ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tảm đồ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong – Mãnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà… Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngàn trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến ; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vàng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như song Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét; song Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình ; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương toả đi khắp phố thị, với những cây đa, cây cừa cổ thụ toả vàng lá u sảm xuống những xóm thuyền xúm xít ; từ những nơi ấy, vẫn lập loè trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô te xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi qua thành phố đã trôi đi chạm, thực chạm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Tôi đã đến Lê-nin-grát, có lúc đứng nhìn sông Nề va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng của mặt trời mùa xuân ; mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng ; và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích. Tôi vừa từ trong khói lửa miền Nam đến đay, lâu năm xa Huế, và chính Lê-nin-grát đã đánh thức trong tâm hồn tôi giấc mơ lộng lẫy của tuổi dại ; ôi, tôi muốn hoá làm một con chim nhỏ đứng co một chân trên con tàu thuỷ tinh để đi ra biển. Tôi cuống quýt vỗ tay, nhưng sông Nê-va đã chảy nhanh quá, không kịp cho lũ hải âu nói một điều gì với người bạn của chúng đang ngẩn ngơ trông theo. Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là He-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi quá nhanh”, thế vậy ! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố... Đáy là điệu slou tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng. Hình như trong khoảnh khắc chùng lại của sông nước ấy, sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Đã nhiều lần tôi thất vọng khi nghe nhạc Huế giữa ban ngày, hoặc trên sân khấu nhà hát. Quả đúng như vậy, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này, trong một khoang thuyền nào đó, giữa tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya. Nguyễn Du đã bao năm lênh đênh trên quãng sông này, với một phiền trăng sầu. Và từ đó, những bản đàn đã đi suốt đời Kiều. Tôi đã chứng kiến một người nghệ nhân già, chơi đàn hết nửa thế kỉ, một buổi tối ngồi nghe con gái đọc Kiều : “Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”... Đến câu ấy, người nghệ nhân chợt nhổm dạy vỗ đùi, chỉ vào trang sách Nguyễn Du mà thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh !” Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đay chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa em ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống con người ở đây ; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đáy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tụ, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ...”. Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian ; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở. [...] Hiển nhiên là sông Hương đã sống những thế kỉ quang vinh với nhiệm vụ lịch sử của nó, từ thuở nó còn là một dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng. Trong sách địa dư của Nguyễn Trãi, nó mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt qua những thế kỉ trung đại. Thế kỉ mười tám, nó vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ ; nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỉ mười chín với máu của những cuộc khởi nghĩa, và từ đấy sông Hương đã đi vào thời đại Cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong mùa xuân Mậu Thân, Huế đã nhận được những lời chia buồn sau sắc nhất của thế giới về sự tàn phá mà đế quốc Mĩ đã chụp lên những di sản văn hoá của nó. “Các trung tâm lớn của chúng ta về lịch sử, văn hoá, học thuật và về chính quyền rất nhiều. Phải hiểu rằng Huế là một thành phố kết hợp tất cả những cái đó, giống như các thành phố Luân Đôn, Pa-rỉ và Béc-lin,... Một số trong các di sản đó đã bị phá huỷ lúc Thành Nội Huế bị ném bom. Không thể so sánh sự mất mát này với sự mất mát của một viện bảo tàng hay một thư viện ở Mĩ. Sự phá huỷ những di sản này cũng có tính chất giống như sự mất mát xảy ra đối với nền văn minh châu Âu khi một số công trình của nền văn minh Hi Lạp và La Mã cổ đại bị đổ nát vì các nhà thờ bị phá hoại”. Đó là sự đánh giá đày phẫn nộ của chính người Mĩ, Ra-pha-en Li-tao-ơ, Noóc-man U-phốp và nhóm giáo sư Đại học Coóc-nen, trong một tác phẩm khoa học đầy mùi thuốc nổ và hoá chất độc mang tên Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương. Tháng trước, tôi được dịp có mặt trong cuộc tiếp đón ở Thành uỷ Huế chào mừng đoàn đại biểu của Hội nghị tổng kết chiến tranh, tại thành phố. Thay mặt Quan uỷ Trung ương, đồng chí Đại tướng phát biểu : “Lịch sử Đảng đã ghi bằng nét son tên của thành phố Huế, thành phố tuy nhỏ nhưng đã cống hiến rất xứng đáng cho Tổ quốc”... Đồng chí nói, đầu cúi xuống ngực, hai bàn tay chắp lại trong cử chỉ kính cản của người già mắt ngán lệ ; và người nghe, tất cả đều lặng đi trong cảm xúc đột ngột của một lời thề. Sông Hương là vậy, là dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Khi nghe lời gọi, nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công, để rồi nó trở về với cuộc sống bình thường, làm một người con gái dịu dàng của đất nước. Thỉnh thoảng, tôi vẫn còn gặp trong những ngày nắng đem ra phơi, một sắc áo cưới của Huế ngày xưa, rất xưa : màu áo điều lục với loại vải vân thưa màu xanh chàm lồng lên một màu đỏ ở bên trong, tạo thành một màu tím ẩn hiện, thấp thoáng theo bóng người, thuở ấy các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng. Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ổn giấu khuôn mặt thực của dòng sông... Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó : từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, “Dòng sông trắng – lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát ; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khỏi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đay, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy. Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bằng khoảng : – Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Tóm tắt phần thứ hai : Những thành tựu khảo cổ học cho biết, nằm dưới lòng đất làng Thành Trung ngày nay, nơi ngã ba Sình, phía tả ngạn sông Hưng, những di tích của thành cổ Hoá Châu được xây dựng từ thời viễn cổ. Đây là một địa điểm có vị trí chiến lược quan trọng nơi biên giới phía Nam của nước Việt cổ, từng chứng kiến nhiều chiến công chống xâm lược rất oanh liệt của nhân dân ta qua nhiều triều đại phong kiến. Hoá ra sông Hương và thành phố Huế có cả một bề dày lịch sử hết sức oai hùng. Tóm tắt phần thứ ba : Người làng Thành Trung có nghề trồng rau thơm. Ở đây có một huyền thoại kế rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm tho mãi mãi. Ai đã đặt tên cho dòng sông ? Có lẽ huyền thoại trên đã giải đáp câu hỏi ấy chẳng (Ai đã đặt tên cho dòng sông ?, NXB Thuận Hoá, Huế, 2002)
- Thu gọn
|
||||||||||||||||||||||||||







Danh sách bình luận