Đề thi học kì 2 Văn 7 Kết nối tri thức - Đề số 14Tải về I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Bố đứng nhìn biển cả Bố đứng nhìn biển cả Con xếp giấy thả diều Bố trời chiều bóng ngả Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 7 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - Khoa học tự nhiên... Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn
Đề thi I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: Bố đứng nhìn biển cả
Câu 1 (1.0điểm). Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? Dấu hiệu nào em nhận ra thể thơ? Câu 2 (0,5 điểm). Trong hai khổ thơ cuối “Ống nhòm theo biển dài… vừng trăng non” tác giả đã sử dụng mấy từ láy? Câu 3 (0,5 điểm). Tổ hợp từ “dạy con hình học” là cụm từ nào? Câu 4 (0,5 điểm). Tâm trạng của người bố được gợi tả như thế nào trong hai câu thơ sau? “Theo con nhìn tương lai Khấp khởi mừng trong dạ.” Câu 5. (0,5 điểm) Bên biển cả, hai bố con đã có những trải nghiệm gì? Câu 6. (1,5 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau: “Chuyện bố bố con con Dập dồn như lớp sóng” Câu 7. (1,0 điểm) Em rút ra được những thông điệp gì từ bài thơ trên? Câu 8. (0,5 điểm) Em sẽ làm gì để đền đáp công ơn của cha mẹ? PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm) Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà em có dịp tìm hiểu. Đáp án Phần I. ĐỌC HIỂU Câu 1 Phương pháp giải: Đếm số chữ mỗi dòng thơ + quan sát cách gieo vần, nhịp thơ để xác định thể thơ Lời giải chi tiết: -Thể thơ: 5 chữ - Dấu hiệu: +Mỗi dòng thơ có 5 chữ, không giới hạn về số dòng thơ +Gieo vần chân, vần cách: cả - ngả, con- tròn, học- mọc, +Nhịp 3/2, 2/3 Câu 2 Phương pháp giải: Xác định từ láy bằng cách tìm những từ có âm lặp lại (láy âm hoặc vần). Lời giải chi tiết: Tác giả đã sử dụng 2 từ láy: “Khấp khởi, bát ngát” Câu 3 Phương pháp giải: Xét cấu tạo cụm từ theo từ trung tâm (động từ/danh từ/tính từ). Lời giải chi tiết: Câu thơ sử dụng cụm động từ: “dạy con hình học” Câu 4 Phương pháp giải: Dựa vào từ ngữ biểu cảm để xác định tâm trạng nhân vật. Lời giải chi tiết: Niềm khát khao, mơ ước về tương lai tươi sáng. Câu 5 Phương pháp giải: Tìm các chi tiết hoạt động của hai bố con trong bài thơ. Lời giải chi tiết: Bên biển cả, hai bố con đã có những trải nghiệm: - Đi trên tàu cùng ngắm biển qua ống nhòm; cùng nhìn về tương lai. - Thả diều; - Bố dạy, con học hình học (Toán). Câu 6 Phương pháp giải: Xác định dấu hiệu tu từ (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa...) và nêu tác dụng. Lời giải chi tiết: - Biện pháp so sánh: Chuyện bố bố con con được so sánh với lớp sóng qua từ như hoặc có thể chép cả hai câu thơ. - Tác dụng: + Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, hình ảnh so sánh trở nên gần gũi dễ hiểu. + Làm nổi bật lên hình ảnh thân thiết của hai bố con qua câu chuyện của bố, câu chuyện của con hai bố con kể cho nhau nghe nhiều như lớp sóng biển dập dồn. Con hiểu bố, bố hiểu con, bố coi con như một người bạn và con coi bố cũng như là người bạn thân thiết cùng nhau chia sẻ những câu chuyện đã trải qua và những câu chuyện sắp tới. Câu 7 Phương pháp giải: Khái quát nội dung + rút ra bài học ý nghĩa. Lời giải chi tiết: Các thông điệp từ bài thơ: - Tình cảm từ người thân yêu luôn là gần gũi, thiêng liêng nhất. - Cha luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho con. - Hãy trân trọng từng khoảnh khắc sống bên cha. - Hãy quan tâm, chăm lo, yêu thương, kính trọng, hiếu thảo với cha của mình - … Câu 8 Phương pháp giải: Liên hệ bản thân, nêu hành động cụ thể. Lời giải chi tiết: Các việc làm để đền đáp công ơn của cha mẹ: - Quan tâm, chia sẻ với cha mẹ những niềm vui, nỗi buồn - Kính trọng, yêu thương, ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ - Thăm hỏi sức khỏe, tận tình chăm sóc cha mẹ lúc ốm đau, khi về già - Làm việc nhà để cha mẹ đỡ vất vả, vui vẻ, hạnh phúc. - Luôn cố gắng học tập tốt để báo đáp công ơn trời biển của cha mẹ - ... PHẦN VIẾT Phương pháp giải: - Đảm bảo bố cục bài văn tự sự gồm 3 phần: MB, TB, KB. - Xác định vấn đề: Kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà em có dịp tìm hiểu. - Triển khai văn bản cần đảm bảo: + Sử dụng ngôi kể thứ nhất. + Giới thiệu sự việc có liên quan đến nhân vật lịch sử. + Các sự việc chính bắt đầu - diễn biến - kết thúc. + Suy nghĩ của em về sự việc đó. Lời giải chi tiết: Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Rất nhiều mẩu chuyện kể về cuộc đời của Người. Qua đó, chúng ta thấy được những đức tính tốt đẹp của người. Vào giữa mùa thu năm 1954, Bác đến tham dự “Hội nghị rút kinh nghiệm cải cách ruộng đất” ở Hà Bắc. Tại hội nghị, khi biết có lệnh của Trung ương rút bớt một số cán bộ đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai cũng háo hức muốn đi, đặc biệt là những người quê ở Hà Nội. Sau nhiều năm xa cách quê hương, mọi người đều mong muốn được cấp trên chiếu cố. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có nhiều phân tán. Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử. Trời đã vào thu nhưng vẫn còn khá nóng, mồ hôi ướt đẫm hai bên vai áo nâu của Bác. Mở đầu, Bác trò chuyện về tình hình thời sự. Khi nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt. Rồi Bác hỏi các đồng chí cán bộ về chức năng của từng bộ phận của đồng hồ. Thế rồi, Bác mới hỏi: - Trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng? Mọi người đều im lặng, không ai trả lời: - Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không? - Thưa, không được ạ!- Các cán bộ lại đồng thanh đáp. Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận: - Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ… cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì còn là cái đồng hồ được không? Nghe xong, cả hội trường trở nên im lặng. Mỗi người đều có những suy nghĩ riêng về lời nói của Bác. Vào một dịp cuối năm 1954, Bác đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Thăm nơi ăn, chốn ngủ của các chiến sĩ bộ đội xong, Bác đã đã trò chuyện với họ. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt, chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại nói như vậy? Bác vui vẻ nói tiếp: - Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy. Nếu hoán đổi vị trí từng bộ phận cho nhau thì có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Sau câu chuyện của Bác, anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành. Không chỉ vậy, chiếc đồng hồ quả quýt còn là một hiện vật vô giá thể hiện tình cảm Quốc tế đối với Bác, đó là chiếc đồng hồ do Tổ chức Quốc tế “Cứu Tế đỏ” tặng, Bác luôn giữ nó trong mình, trong những năm tháng bị cầm tù gian khổ cho đến ngày Việt Nam giành được độc lập. Câu chuyện về chiếc đồng hồ đã cho thấy được những phẩm chất đẹp đẽ của Bác Hồ, cũng như bài học sâu sắc mà bác muốn dạy cán bộ, chiến sĩ của mình.
|







Danh sách bình luận