Quảng cáo
  • Viết đoạn văn nêu cảm nhận về hình ảnh: ngôi nhà của mẹ trong bài thơ "Ngôi nhà của mẹ" (Hữu Thỉnh)

    Những vật dụng đơn sơ như chiếc chõng tre, giọt ranh thưa, hàng gạch lún hay chiếc vó nhện cũ kỹ trên tường đã cùng nhau dệt nên không gian ấm áp của “ngôi nhà của mẹ”. Đối với người lính bước ra từ khói lửa chiến tranh, ngôi nhà không chỉ là chốn che mưa che nắng, mà là cội nguồn của bình yên, nơi "bao xa cách lấp bằng trong chốc lát". Sức mạnh của ngôi nhà nằm ở sự dung dị: một ngọn lửa biết sẻ chia, một chiếc dây phơi bỗng "cao hơn với mẹ" vì dáng mẹ đã hao gầy theo năm tháng đợi con. Trở về nhà là để con được nương tựa vào lòng mẹ, được cởi bỏ tấm áo phong trần để sống lại với những khát vọng nguyên sơ như gánh nước, nhóm bếp. Hình ảnh ấy chạm đến trái tim người đọc bởi nó khẳng định một chân lý: ngôi nhà của mẹ chính là thánh đường nuôi dưỡng và chữa lành mọi tổn thương trong tâm hồn con người.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về khổ thơ đầu của bài thơ “Tự nguyện” (Trương Quốc Khánh)

    Khổ thơ đầu tác phẩm “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh là khúc ca ghi dấu lý tưởng sống cao đẹp của thế hệ trẻ. Bằng điệp cấu trúc giả định “Nếu là… tôi sẽ là…”, tác giả mở ra ước nguyện hóa thân đầy bình dị mà thanh cao thông qua các ẩn dụ: “chim bồ câu trắng” đại diện cho hòa bình, “đóa hướng dương” hướng về lý tưởng và “vầng mây ấm” gieo rắc tình yêu thương. Những hình ảnh thiên nhiên ấy chính là bệ phóng cho lời khẳng định đầy sức nặng ở câu cuối: “Là người, tôi sẽ chết cho quê hương”. Sự chuyển biến từ “Nếu là” sang “Là người” cấu tứ nên một nhân sinh quan cốt lõi: đặc ân lớn nhất của kiếp nhân sinh là được phụng sự Tổ quốc. Hành động “chết cho quê hương” không bi lụy mà rực rỡ sắc màu kiêu hãnh, thể hiện sự tự nguyện hiến dâng cả máu xương cho độc lập dân tộc. Khổ thơ lay động người đọc bởi sự kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình mềm mại và ý chí đanh thép, nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm với đất nước.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về khổ thơ:“Con ở miền Nam… đứng thẳng hàng (Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương)

    Khổ thơ mở đầu Viếng lăng Bác của Viễn Phương là tiếng lòng nghẹn ngào của người con miền Nam sau ngày thống nhất. Cách xưng hô "Con - Bác" tự nhiên, thành kính mà thân thương như người ruột thịt, mang đậm bản sắc Nam Bộ. Nhà thơ khéo léo dùng từ "thăm" thay cho "viếng" nhằm giảm bớt nỗi đau thương, khẳng định Bác vẫn sống mãi trong lòng người dân. Đứng trước lăng, ấn tượng đầu tiên bao bọc lấy tâm trí tác giả là "hàng tre bát ngát" ẩn hiện trong sương sớm. Từ hình ảnh thực, tre biến thành biểu tượng "xanh xanh Việt Nam", đại diện cho hồn quê xứ sở. Thành ngữ "bão táp mưa sa" đối lập với dáng đứng "thẳng hàng" đã ngợi ca ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất của con người Việt Nam. Khổ thơ ngắn gọn nhưng kết tinh trọn vẹn niềm xúc động thiêng liêng, vừa chan chứa tình mẫu tử, vừa mang hào khí của cả một dân tộc anh hùng.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn trình bày cảm nghĩ về hai khổ thơ cuối bài thơ “Bàn giao” của tác giả Vũ Quần Phương

    Hai khổ thơ cuối bài “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là lời ký thác thiêng liêng của thế hệ đi trước dành cho mai sau. Sau những dông bão cuộc đời, người ông chọn trao lại cho cháu một thế giới tràn đầy sức sống với “tháng giêng hương bưởi” và “cỏ mùa xuân xanh”. Điệp từ “đẫm” trong “đẫm nắng”, “đẫm yêu thương” gợi tả một cuộc sống viên mãn, giàu tình người mà ông đã dùng cả cuộc đời để gìn giữ. Thế nhưng, hành trang ông trao đi không chỉ có màu hồng. Ông thẳng thắn bàn giao cả “một chút buồn”, “chút cô đơn” — những khoảng lặng nhân bản giúp con người trưởng thành và biết thấu cảm. Tài sản lớn nhất, cốt lõi nhất chính là “câu thơ vững gót làm người”, biểu tượng của bản lĩnh, phông văn hóa và đạo đức sáng ngời. Bằng giọng thơ tâm tình, thủ pháp điệp từ tinh tế, đoạn thơ không chỉ là tình cảm ông cháu, mà còn thức tỉnh trong lòng thế hệ trẻ trách nhiệm tiếp nối, sống sao cho xứng đáng với những giá trị cao đẹp được trao truyền.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích 12 dòng thơ cuối của văn bản “Ăn tết với mẹ” của Vĩnh Mai

    12 dòng thơ cuối của "Ăn tết với mẹ" là nốt lặng đầy xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng hòa trong tình yêu đất nước. Tác giả Vĩnh Mai đã tái hiện hình ảnh người mẹ đầy sống động qua những cử chỉ bình dị: “ngó con nhai”, “nhìn con nuốt” cùng “hai mắt cười”. Ánh mắt ấy chứa chan niềm hạnh phúc, sự chắt chiu và chở che của người mẹ dành cho đứa con xa nhà. Không chỉ dừng lại ở tình mẫu tử, lòng mẹ còn bao la hơn khi bỗng nhiên "mắt mẹ sáng ngời" hỏi thăm tuổi của Bác Hồ ("Cụ"). Câu hỏi tự nhiên, mộc mạc ấy thể hiện lòng kính yêu sâu sắc của người mẹ hậu phương hướng về vị lãnh tụ. Chính tình thương ấm áp bên bếp lửa và tấm lòng cao cả của mẹ đã thấm thía vào tâm can người chiến sĩ. Nó trở thành cội nguồn sức mạnh, là hành trang vô giá để người con vững vàng bước tiếp, "coi thường gian lao" nơi chiến trường.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích tám câu thơ cuối văn bản “Mùa hạ” của Xuân Quỳnh. Trong đoạn văn có sử dụng phù hợp trợ từ (Gạch dưới 1 trợ từ)

    Tám câu thơ cuối bài "Mùa hạ" của Xuân Quỳnh là tiếng lòng đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi thiết tha về thời gian và tuổi trẻ. Bốn câu đầu mở ra không gian mùa hạ đặc trưng với cánh diều cao vút, tiếng dế đêm oi bức và tiếng cuốc thúc giục nắng trưa. Cảnh sắc ấy không chỉ là thiên nhiên mà chính là hiện thân của một sức sống mãnh liệt, cuộn trào. Đối diện với cái hối hả của mùa hạ, nữ sĩ chợt giật mình hỏi: "Mùa hạ đã đi chưa?". Tiếng than "Ôi tuổi trẻ..." làm hiện hình nỗi lo âu trước dòng chảy vô tình của thời gian khi khát khao đời người còn quá bỏng cháy. Thế nhưng, ngay cả khi đối mặt với sự hữu hạn đó, Xuân Quỳnh vẫn giữ một niềm tin bất diệt. Hai câu cuối khẳng định quy luật của tự nhiên: mặt đất mãi xanh, quả ngọt luôn bắt đầu từ sắc hoa thắm thiết. Đoạn thơ khép lại bằng một triết lý nhân sinh cao đẹp: dẫu tuổi trẻ qua đi, những giá trị cốt lõi của tình yêu và sự sống vẫn sẽ trường tồn mãi mãi.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về hai khổ thơ đầu bài thơ Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy

    Hai khổ thơ đầu bài Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy đã chạm đến góc khuất dịu dàng nhất của tình quân dân trong khói lửa chiến tranh. Giữa đêm đông lạnh giá nơi đồng chiêm nghèo, người lính gõ cửa và được đón nhận bởi một tấm lòng người mẹ bao la. Dù hoàn cảnh "nhà hẹp", "chiếu chăn chả đủ", lời "phàn nàn" của mẹ thực chất là nỗi áy náy, xót xa đầy bao dung của một người mẹ lo con mình chịu rét. Hành động "ôm rơm lót ổ" mộc mạc mà chứa chan tình mẫu tử. Trong gian nhà tranh ấy, người lính được bao bọc như "kén bọc tằm", một hình ảnh so sánh tuyệt đẹp gợi sự chở che, an yên tuyệt đối. Anh "thao thức" không phải vì lạnh, mà vì xúc động trước "hương mật ong của ruộng" – thứ hương vị tinh túy của đất đai quê hương. Đoạn thơ là khúc ca hoài niệm đầy biết ơn, khẳng định tình yêu thương của nhân dân chính là điểm tựa tinh thần lớn lao nhất của người chiến sĩ.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn làm rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh bàn chân người lính được thể hiện trong bài thơ "Bàn chân người lính" của Nguyễn Duy

    Trong bài thơ của Nguyễn Duy, “bàn chân người lính” trước hết là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng và tình quân dân cá nước sâu nặng. Giữa đêm khuya khi vạn vật say ngủ, các anh vẫn bền bỉ hành quân, để lại những “dấu chân đẫm sương” gian khổ. Hình ảnh “dấu chân như chào ở lại” là một sáng tạo nghệ thuật đầy xúc động, biến cái vô tri thành vật có linh hồn. Dấu chân ấy không chỉ là vết tích của một cuộc hành trình, mà còn là lời nhắn nhủ yêu thương, sự lưu luyến gửi lại cho người dân xóm nhỏ. Nhìn dấu chân, nhân dân “rưng rưng” thương cảm, thấu hiểu cái giá của sự bình yên. Nguyễn Duy đã không thần thánh hóa người lính, ông chỉ nhìn vào đôi bàn chân trần ngâm trong sương lạnh để tạc nên tượng đài về lòng yêu nước. Biểu tượng ấy vừa giản dị, vừa thiêng liêng, chạm đến sợi dây tình cảm sâu kín nhất của lòng người.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích bài thơ "Đi dọc lời ru" của Chu Thị Thơm

    Bài thơ “Đi dọc lời ru” của Chu Thị Thơm là khúc ca ngọt ngào về tình mẹ và những giá trị tinh thần nuôi dưỡng con người. Hình ảnh lời ru hiện lên như dòng sữa ngọt lành, theo bước chân con từ tuổi thơ đến những năm tháng trưởng thành. Qua lời ru, mẹ không chỉ trao gửi yêu thương mà còn dạy con những bài học đầu đời về lòng nhân ái và tình yêu quê hương. Giọng thơ nhẹ nhàng, tha thiết cùng điệp ngữ “lời ru” đã tạo nên âm hưởng sâu lắng cho tác phẩm. Đằng sau những câu thơ bình dị là bóng dáng người mẹ âm thầm hi sinh, dành trọn cuộc đời cho con. Bài thơ giúp người đọc cảm nhận sâu sắc sức mạnh của tình mẫu tử trong việc bồi đắp tâm hồn và nhân cách con người. Vì vậy, “Đi dọc lời ru” không chỉ là bài ca về tình mẹ mà còn là lời nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng cội nguồn yêu thương của mình.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp của Thuý Kiều trong đoạn trích sau: “Kiều càng sắc sảo mặn mà…Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” (Truyện Kiều của Nguyễn Du)

    Qua bốn câu thơ trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã khắc họa một bức chân dung tuyệt mỹ, có hồn của Thúy Kiều bằng bút pháp ước lệ bậc thầy. Sau khi đặt Kiều vào thế đối chiếu "càng sắc sảo mặn mà" để làm nổi bật sự vượt trội so với Thúy Vân, thi sĩ tập trung đặc tả đôi mắt – cửa sổ tâm hồn. Hình ảnh "làn thu thủy, nét xuân sơn" gợi lên đôi mắt trong sáng, sâu thẳm như làn nước mùa thu cùng nét mày thanh tú như dáng núi mùa xuân. Nguyễn Du không sa đà vào chấm phá chi tiết mà dùng cái tinh túy của đất trời để thổi hồn vào trang giấy, gợi lên một vẻ đẹp vừa thông minh, vừa tràn đầy sức sống trẻ trung. Bức chân dung ấy không chỉ là nhan sắc, mà còn là kết tinh của một trí tuệ mẫn tiệp và một tâm hồn đa cảm. Đoạn thơ ngắn gọn nhưng đã khẳng định tài năng thiên bẩm của đại thi hào trong nghệ thuật tả người.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...