-
Hãy làm sáng tỏ nhận định: "Tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người...."
Văn chương chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ cuộc đời và hướng về con người. Bởi vậy, Nguyễn Minh Châu khẳng định nhà văn phải “mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống”, đặc biệt là tình thương con người. Tình yêu ấy vừa là niềm hân hoan trước vẻ đẹp, sức sống của con người, vừa là nỗi đau đớn, khắc khoải trước những số phận bất hạnh.
Trong Vợ nhặt, tình yêu con người khiến Kim Lân phát hiện ánh sáng của tình người ngay giữa bóng tối của nạn đói. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ dù đứng bên bờ vực cái chết vẫn biết cưu mang, yêu thương và hướng tới một mái ấm. Với Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại nhìn sâu vào số phận người đàn bà hàng chài để nhận ra phía sau vẻ ngoài lam lũ là lòng bao dung, đức hi sinh và tình thương con sâu sắc. Yêu con người, vì thế, trước hết là tin vào vẻ đẹp tiềm ẩn của con người.
Nhưng càng yêu thương, nhà văn càng đau trước những gì hủy hoại con người. Nam Cao trong Chí Phèo xót xa trước một anh canh điền lương thiện bị xã hội đẩy thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Đau đớn hơn, khi Chí thức tỉnh, khao khát trở lại làm người lương thiện thì định kiến xã hội lại đóng sập cánh cửa trở về. Qua đó, Nam Cao không chỉ thương xót mà còn tố cáo những thế lực tước đoạt nhân hình, nhân tính và quyền sống của con người. Cũng trong Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đi tìm căn nguyên phía sau bạo lực gia đình: đói nghèo, cuộc sống lênh đênh và những nghịch lí phức tạp của số phận. Tình thương chân chính vì vậy không dừng ở thương cảm mà còn đòi hỏi sự thấu hiểu.
Ý kiến của Nguyễn Minh Châu đã khẳng định sâu sắc thiên chức nhân văn của người nghệ sĩ. Tình yêu con người là cội nguồn của sáng tạo, nhưng phải được chuyển hóa thành những khám phá chân thực và giá trị nghệ thuật. Văn chương được sinh ra từ tình thương cũng có khả năng đánh thức tình thương, giúp con người biết cảm thông, trân trọng phẩm giá và hạnh phúc của nhau. Bởi thế, một nhà văn chân chính luôn vui cùng vẻ đẹp của con người, đau cùng nỗi đau của họ và không ngừng thao thức trước số phận con người.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi."
Nghệ thuật là hành trình sáng tạo cái đẹp nhưng chưa bao giờ là cuộc độc hành tách biệt khỏi đời sống. Bởi vậy, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình và người khác tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.” Ý kiến khẳng định người nghệ sĩ chân chính phải vừa giữ gìn cá tính sáng tạo, vươn tới cái đẹp, vừa gắn bó và có trách nhiệm với cộng đồng.
Trước hết, người nghệ sĩ không thể bỏ qua cái đẹp bởi đó là bản chất của nghệ thuật. Trong Đàn ghi-ta của Lor-ca, Thanh Thảo không chỉ tái hiện số phận bi tráng của Lor-ca mà còn sáng tạo một thế giới nghệ thuật giàu tính tượng trưng, siêu thực. Hình ảnh “tiếng đàn bọt nước”, chuỗi âm thanh “li-la li-la li-la” cùng những liên tưởng độc đáo đã làm sống dậy vẻ đẹp của một nghệ sĩ tự do, luôn khát khao cách tân. Chính sự tìm tòi về hình thức giúp tư tưởng và cảm xúc của bài thơ có sức ám ảnh lâu bền.
Tuy nhiên, nghệ sĩ cũng không thể tách khỏi cộng đồng bởi đời sống con người vừa là nguồn sống vừa là đích đến của nghệ thuật. Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu cho thấy điều đó qua hành trình nhận thức của Phùng. Đằng sau cảnh chiếc thuyền trong sương đẹp như một bức tranh là hiện thực bạo lực đau đớn của gia đình hàng chài. Từ nghịch lí ấy, nhà văn đặt ra yêu cầu: nghệ thuật không thể chỉ say mê vẻ đẹp bên ngoài mà phải đi sâu vào những góc khuất của đời sống, thấu hiểu số phận con người bằng cái nhìn đa diện và nhân hậu.
Sự thống nhất giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng càng được soi sáng qua bi kịch Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô mang khát vọng xây dựng Cửu Trùng Đài như một công trình “bền như trăng sao”, để dân tộc có một kiệt tác trường tồn. Khát vọng nghệ thuật ấy cao đẹp, nhưng khi công trình được xây dựng bằng tiền của, mồ hôi, xương máu và sự khốn khổ của nhân dân, cái đẹp đã rơi vào xung đột với đời sống. Bi kịch của Vũ Như Tô cho thấy nghệ thuật chân chính không thể quay lưng với con người; cái đẹp chỉ thực sự có ý nghĩa khi không đối lập với quyền sống và hạnh phúc của cộng đồng.
Dẫu vậy, trách nhiệm với cộng đồng không có nghĩa văn chương phải trực tiếp giải quyết mọi vấn đề xã hội; một tiếng nói riêng tư vẫn có thể mang ý nghĩa phổ quát nếu chạm tới những giá trị sâu xa của con người. Cái đẹp cũng không chỉ là sự trau chuốt hình thức mà còn nằm ở chiều sâu tư tưởng, cảm xúc và hình tượng nghệ thuật. Nếu chỉ chạy theo hình thức, nghệ thuật dễ trở nên đẹp đẽ mà vô cảm; nếu chỉ truyền tải thông điệp mà xem nhẹ thẩm mĩ, tác phẩm lại dễ rơi vào minh họa, thuyết giáo.
Bởi thế, nhận định của A. Camus đã chạm tới bản chất và thiên chức của sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm lớn cần hướng tới sự thống nhất giữa Chân, Thiện và Mĩ: bắt rễ từ sự thật đời sống, được nâng đỡ bởi tình yêu con người và trở nên bất tử nhờ sức mạnh của cái đẹp.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: "Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài..." (Ý nghĩa văn chương- Hoài Thanh)
Có người từng nói rằng văn chương là nơi trái tim con người tìm thấy tiếng nói của chính mình. Thật vậy, văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn lưu giữ những tình cảm đẹp đẽ nhất của nhân loại. Bởi thế, Hoài Thanh khẳng định: “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.” Ý kiến đã chỉ ra cội nguồn sâu xa của sáng tạo nghệ thuật: văn chương chân chính luôn được khơi nguồn từ tình yêu thương và khát vọng hướng con người đến những giá trị nhân văn.
“Nguồn gốc cốt yếu” là động lực căn bản làm nảy sinh văn chương. Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, phản ánh cuộc sống và bộc lộ tư tưởng, tình cảm của con người. “Lòng thương người” là sự đồng cảm với nỗi đau, niềm vui, phẩm giá và khát vọng của con người; còn “thương cả muôn vật, muôn loài” là mở rộng tình yêu ấy đến thiên nhiên và mọi sự sống. Như vậy, Hoài Thanh khẳng định rằng chính tình yêu thương là mạch nguồn quan trọng nhất nuôi dưỡng văn chương, giúp nghệ thuật hướng con người tới Chân – Thiện – Mỹ.
Trước hết, văn chương bắt nguồn từ lòng thương người bởi con người luôn là trung tâm của nghệ thuật. Trong Vợ nhặt, Kim Lân không chỉ kể câu chuyện về nạn đói năm 1945 mà còn phát hiện ánh sáng của tình người giữa bóng tối chết chóc. Một người đàn bà theo không Tràng về làm vợ chỉ bằng vài bát bánh đúc, nhưng điều nhà văn muốn khắc họa không phải sự rẻ rúng của kiếp người mà là khát vọng được sống, được yêu thương và được nương tựa. Bữa cơm ngày đói với nồi cháo cám vẫn ấm áp bởi tình mẫu tử của bà cụ Tứ và niềm hi vọng vào tương lai. Cũng như Nam Cao trong Lão Hạc, Kim Lân đều hướng ngòi bút về những con người nghèo khổ bằng sự trân trọng và xót thương sâu sắc, để từ đó khẳng định vẻ đẹp nhân phẩm của họ.
Không chỉ yêu con người, văn chương còn mở rộng tình yêu đến thiên nhiên và mọi sự sống. Thiên nhiên trong Sang thu của Hữu Thỉnh hiện lên với “hương ổi”, “gió se”, “sông dềnh dàng”, vừa gần gũi vừa giàu sức gợi. Đó không đơn thuần là bức tranh giao mùa mà còn là sự nâng niu từng chuyển động nhỏ của tạo vật. Cũng như Nguyễn Trãi trong Cảnh ngày hè, tình yêu thiên nhiên luôn hòa quyện với tình yêu cuộc đời, làm nên một tâm hồn biết nâng niu mọi vẻ đẹp của sự sống.
Chính lòng yêu thương đã tạo nên sức sống lâu bền của văn chương. Điều còn lại sau mỗi trang sách không chỉ là câu chữ mà là sự thức tỉnh trong tâm hồn người đọc. Vợ nhặt khiến con người thêm tin vào sức mạnh của tình người; Lão Hạc đánh thức lòng trắc ẩn trước những số phận bất hạnh. Đó chính là giá trị nhân văn bền vững giúp tác phẩm vượt qua giới hạn của thời gian.
Tuy nhiên, lòng yêu thương thôi chưa đủ để tạo nên một tác phẩm lớn. Tình cảm ấy cần được nâng đỡ bởi tài năng nghệ thuật để trở thành những hình tượng giàu sức lay động. Nhà văn vì thế phải vừa có trái tim nhân hậu, vừa có bản lĩnh sáng tạo để gìn giữ những giá trị tốt đẹp của con người và cuộc sống. Đồng thời, người đọc cũng cần tiếp nhận tác phẩm bằng sự đồng cảm để hoàn thiện nhân cách. Ngược lại, nếu văn chương chỉ là những lời giáo huấn khô cứng hoặc chỉ chăm chút kỹ thuật mà thiếu rung cảm chân thành thì khó có thể chạm đến trái tim con người.
Nhận định của Hoài Thanh đã khẳng định bản chất nhân văn của văn chương: lòng yêu thương chính là mạch nguồn quan trọng nhất của sáng tạo nghệ thuật. Qua Vợ nhặt, có thể thấy Kim Lân đã chuyển hóa tình yêu con người thành những hình tượng nghệ thuật giàu sức sống, khơi dậy niềm tin vào tình người ngay giữa hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Vì thế, văn chương không chỉ giúp con người hiểu cuộc đời mà còn dạy con người biết yêu thương, biết trân trọng mọi sự sống và sống nhân ái hơn.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cá đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người” (Lê Đình Kỵ)
Trong nghệ thuật, cái đẹp không phải thứ được phủ lên hiện thực để làm cuộc đời trở nên lung linh, mà thường được phát hiện ngay trong những gì chân thực nhất của đời sống và tâm hồn. Bởi thế, giáo sư Lê Đình Kỵ trong Cảm nhận văn học đã khẳng định: “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người”. Ý kiến đã chạm tới bản chất của cái đẹp văn chương: tác phẩm phải vừa khám phá chiều sâu hiện thực, vừa diễn tả trung thực thế giới nội tâm con người bằng hình thức nghệ thuật giàu sức gợi.
“Sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài” không chỉ là những gì mắt thấy tai nghe mà là bản chất, quy luật và những nghịch lí nằm phía sau hiện tượng. Trong Vợ nhặt, Kim Lân không đơn thuần kể chuyện một người đàn ông “nhặt” được vợ giữa nạn đói năm 1945. Qua cảnh “người chết như ngả rạ”, “người sống dật dờ như những bóng ma”, nhà văn phơi bày hiện thực khốc liệt đã đẩy con người đến tận cùng đói khát. Nhưng từ chính bóng tối ấy, tác phẩm lại phát hiện một sự thật đẹp đẽ về con người: càng bị dồn vào bước đường cùng, họ càng khao khát được sống, được yêu thương và dựng xây mái ấm.
Nếu hiện thực tạo nên bối cảnh thì “sự thật tâm tình” làm nên chiều sâu nhân bản của tác phẩm. Tràng vốn là người dân nghèo, vậy mà khi có vợ, “hắn thấy êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Bà cụ Tứ nghẹn ngào, xót xa nhưng vẫn cố gieo vào các con niềm hi vọng về “năm nay” và tương lai. Những biến chuyển tinh tế ấy khiến nhân vật không còn là những con người của nạn đói mà trở thành những cá thể có khát vọng sống mãnh liệt.
Điều đáng quý là Kim Lân đã để hiện thực và tâm tình soi chiếu lẫn nhau. Tương tự, trong Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài không chỉ phản ánh hiện thực áp bức ở miền núi mà còn đi sâu khám phá sức sống tiềm tàng của Mị, để từ “lúc nào cũng cúi mặt” đến hành động cắt dây cứu A Phủ, nhân vật tự giải phóng chính mình. Hai tác phẩm đều cho thấy: cái đẹp có thể nảy sinh từ những hiện thực đau đớn, miễn là nhà văn tìm thấy trong đó ánh sáng của nhân tính.
Vì thế, “sự thật” trong văn học không phải bản sao máy móc của đời sống mà là hiện thực đã được nhà văn khám phá, lựa chọn và sáng tạo. Nhà văn phải trung thực với cuộc đời nhưng đồng thời phải có khả năng nhìn xuyên qua hiện tượng để chạm tới bản chất và tâm hồn. Người đọc cũng cần vượt qua câu chuyện bề mặt để nhận ra những sự thật nhân sinh mà tác phẩm gửi gắm. Khi sự thật đời sống gặp sự thật tâm tình trong một hình thức nghệ thuật giàu sức ám ảnh, cái đẹp văn chương mới thực sự được sinh thành.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những
Văn chương không chỉ kể lại những gì con người đã sống mà còn giúp con người sống thêm những cuộc đời mình chưa từng trải qua. Bởi vậy, Thanh Thảo từng khẳng định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc”, đồng thời giúp con người “sống ‘ra người’ hơn, sống tốt hơn” nếu biết tìm kiếm những “vệt sáng” trong mỗi trang sách. Ý kiến đã chạm tới đặc điểm và chức năng sâu sắc của văn học: khám phá đời sống, soi chiếu con người và đánh thức những giá trị nhân văn.
Trước hết, văn chương mở rộng biên độ trải nghiệm của con người. Qua tác phẩm, ta không chỉ biết một sự việc mà còn có thể bước vào những hoàn cảnh, số phận và thế giới tinh thần xa lạ. Đọc Vợ nhặt của Kim Lân, người đọc được sống giữa nạn đói năm 1945, một hiện thực “người chết như ngả rạ”, người sống “xanh xám như những bóng ma”. Nhưng trong tận cùng đói khát, Kim Lân không chỉ cho ta thấy cái chết mà còn khám phá sức sống và khát vọng hạnh phúc của con người. Tràng “nhặt” được vợ, bà cụ Tứ đón nhận nàng dâu bằng tình thương, còn người vợ nhặt cũng thay đổi, trở nên hiền hậu, đúng mực. Qua đó, hiện thực hiện lên không chỉ ở bề mặt khốc liệt mà còn ở chiều sâu của lòng người.
Không dừng ở nhận thức, văn chương còn khiến con người “sống ra người hơn”. Bữa cơm ngày đói với “cháo cám” tưởng như chỉ là dấu hiệu của nghèo khổ, nhưng lại trở thành nơi tình thân được vun đắp. Đặc biệt, hình ảnh “lá cờ đỏ bay phấp phới” ở cuối truyện mở ra một hướng sống mới: con người không chịu khuất phục trước đói nghèo mà vẫn hướng về tương lai. Văn chương vì thế không giáo dục bằng những lời răn dạy khô cứng, mà cảm hóa bằng sự rung động và tự ý thức.
Tuy nhiên, để nhận ra những “nguồn sáng” ấy, người đọc phải biết chủ động đọc, cảm và suy ngẫm. Nhà văn dám đi vào bóng tối của hiện thực để tìm ánh sáng nhân tính; người đọc phải bước qua lớp vỏ câu chuyện để nhận ra ánh sáng ấy. Bởi thế, văn chương chân chính không chỉ giúp ta hiểu cuộc đời mà còn giúp ta hiểu người và hiểu chính mình. Gấp lại một trang sách hay, nếu ta nhìn cuộc sống sâu hơn, con người bao dung hơn và bản thân thành thật hơn, thì khi ấy, văn chương đã thực sự giúp ta sống “ra người” hơn.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương”
Quê hương, đất nước luôn là miền cảm xúc sâu bền trong tâm hồn mỗi con người và cũng là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn của văn chương. “Khúc tự tình về quê hương đất nước” vì thế là tiếng lòng phong phú của người nghệ sĩ trước nơi mình thuộc về: vừa tha thiết với những gì gần gũi, bình dị, vừa sâu nặng với con người và vận mệnh Tổ quốc.
Trong văn chương, quê hương không phải một khái niệm xa xôi mà thường hiện lên qua những hình ảnh thân thuộc. Với Anh Thơ trong Tiếng chim tu hú, đó là dòng sông Thương, mùa vải đỏ, tiếng chim gọi hè, người cha già và những kỉ niệm của một thời con gái. Tiếng tu hú từ hiện tại đánh thức nỗi nhớ nhà da diết, nhưng tình yêu ấy không giữ nhân vật trữ tình ở lại với hạnh phúc riêng. Giữa “khói lửa ngút trời”, người con lựa chọn ra đi và “mười năm chửa về quê”. Đến cuối bài thơ, dù tuổi xuân phai nhạt, niềm vui vẫn hiện lên khi “bao nhiêu em gái/ Đẹp lên mùa vải chín ven sông!”. Từ nỗi nhớ riêng đến niềm vui trước sự sống của quê hương, bài thơ cho thấy tình yêu lớn lao thường bắt đầu từ những điều gần gũi và được nâng cao bằng trách nhiệm với cộng đồng.
Trước hết, khúc tự tình về quê hương thường cất lên từ sự nâng niu những vẻ đẹp bình dị. Trong Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử lưu luyến một Vĩ Dạ với “nắng hàng cau”, khu vườn xanh và dòng sông trăng thơ mộng. Tế Hanh trong Nhớ con sông quê hương lại gửi tình yêu vào dòng sông xanh biếc gắn với tuổi thơ. Quê hương còn là nơi lưu giữ tình thân và nguồn cội. Bếp lửa của Bằng Việt gắn hình ảnh bếp lửa với người bà tảo tần, để từ nỗi nhớ bà, người cháu nhận ra những giá trị bền vững đã nuôi dưỡng tâm hồn mình. Trong Nói với con, Y Phương đưa người đọc về với “người đồng mình”, với những phẩm chất đẹp đẽ của quê hương miền núi, từ đó nhắn nhủ con biết trân trọng nguồn cội.
Tình yêu quê hương còn được nâng lên thành tình yêu đất nước và trách nhiệm trước vận mệnh cộng đồng. Trong Đồng chí của Chính Hữu, những người lính vốn là những người nông dân rời “ruộng nương”, “gian nhà” để cùng cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Những cô gái trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê lại đem tuổi trẻ đối diện bom đạn trên tuyến đường Trường Sơn. Tình yêu đất nước còn được nuôi dưỡng từ ý thức về lịch sử và văn hóa. Nguyễn Khoa Điềm trong Đất Nước tìm hình hài Tổ quốc trong phong tục, truyền thuyết và cuộc sống của nhân dân, để khẳng định tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Từ Sông núi nước Nam đến Hoàng Lê nhất thống chí, niềm tự hào về chủ quyền, lịch sử và sức mạnh dân tộc cũng vang lên mạnh mẽ.
Cùng viết về quê hương nhưng mỗi nghệ sĩ lại có một “khúc tự tình” riêng. Anh Thơ có tiếng tu hú và mùa vải ven sông; Tế Hanh có dòng sông tuổi thơ; Bằng Việt có bếp lửa của bà; Y Phương có “người đồng mình”; Nguyễn Khoa Điềm tìm Đất Nước trong chiều sâu văn hóa nhân dân. Chính kí ức, trải nghiệm và cá tính sáng tạo riêng đã làm nên sự phong phú ấy.
Quê hương đất nước trở thành nguồn cảm hứng vô tận bởi đó vừa là nơi con người sinh sống vừa là không gian tinh thần chứa đựng tình thân, kí ức, văn hóa và lịch sử. Những tác phẩm chân chính thường đưa tình yêu ấy đi từ mái nhà đến Tổ quốc, từ nỗi nhớ riêng đến trách nhiệm chung. Vì vậy, mỗi khúc tự tình về quê hương trong văn chương không chỉ là lời người nghệ sĩ gửi tới nơi mình thuộc về mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta biết yêu nguồn cội và sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước.
Xem thêm >> -
Viết bài văn trình bày cảm nhận về những biểu hiện của tình yêu nước qua một số tác phẩm thơ yêu thích
Dòng chảy văn học Việt Nam qua nhiều thế kỉ luôn mang theo một mạch nguồn bền bỉ: tình yêu đất nước. Tình yêu ấy không đứng yên trong một hình thức. Khi dân tộc đứng trước nguy cơ xâm lăng, nó trở thành ý chí bảo vệ chủ quyền; khi con người trở về với đời sống bình thường, nó lắng lại thành nỗi nhớ quê hương, sự trân trọng văn hóa và con người. Bởi vậy, nhận định “Tình yêu đất nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn học Việt Nam” đã khái quát một đặc điểm quan trọng của văn chương dân tộc.
“Tình yêu đất nước” là sự gắn bó, tự hào, trân trọng với quê hương, cộng đồng, lịch sử, văn hóa và vận mệnh dân tộc. “Sợi chỉ đỏ” là hình ảnh ẩn dụ cho một mạch tư tưởng, cảm xúc bền bỉ nối liền nhiều thời đại. Trong “Nam quốc sơn hà”, tình yêu nước trước hết được thể hiện qua ý thức chủ quyền: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”. Giọng thơ đanh thép khẳng định nước Nam có chủ quyền riêng, từ đó thể hiện niềm tự hào và ý thức tự chủ của dân tộc. Nếu tác phẩm trung đại đặt trọng tâm vào độc lập, chủ quyền thì thơ hiện đại lại khám phá đất nước từ những điều gần gũi hơn.
Trong “Quê hương”, Tế Hanh gửi tình yêu đất nước vào nỗi nhớ một làng chài ven biển. Hình ảnh “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” khiến một cảnh vật quen thuộc trở thành biểu tượng của quê hương. Đến “Việt Bắc”, tình yêu ấy gắn với nghĩa tình cách mạng và sự hi sinh: “Những đường Việt Bắc của ta / Đêm đêm rầm rập như là đất rung”. Còn Nguyễn Khoa Điềm trong “Đất Nước” lại nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân: “Đất Nước là máu xương của mình / Phải biết gắn bó và san sẻ / Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở”.
Như vậy, sợi chỉ đỏ của tình yêu đất nước không đồng nghĩa với sự lặp lại. Mỗi thời đại, mỗi nhà thơ lại đem đến một cách nhìn riêng: khi là niềm tự hào về chủ quyền, khi là nỗi nhớ quê hương, lúc trở thành lí tưởng chiến đấu và trách nhiệm sống. Nhà thơ không chỉ giúp con người yêu đất nước mà còn giúp họ hiểu mình đang yêu điều gì và cần làm gì để gìn giữ những giá trị ấy. Người đọc cũng cần chuyển hóa xúc động từ trang thơ thành ý thức và hành động trong đời sống. Bởi tình yêu đất nước trưởng thành không chỉ tạo nên niềm tự hào mà còn đánh thức trách nhiệm với hiện tại và tương lai.
Xem thêm >> -
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm. Từ đó, bàn luận về ý kiến sau: "Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính t
Thơ ca không chỉ tái hiện thế giới mà còn khiến những hình ảnh cụ thể chuyên chở những suy tưởng sâu xa về con người. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng: “Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính triết lí, đánh thức suy ngẫm của người đọc về bản chất sâu xa của con người và thế giới”. Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm là minh chứng tiêu biểu cho nhận định ấy.
Yếu tố tượng trưng là những hình ảnh vừa mang nghĩa cụ thể vừa vượt khỏi chính nó để gợi những ý niệm khái quát. Nhờ đó, thơ không trực tiếp giảng giải triết lí mà để tư tưởng nảy sinh từ hình tượng, đồng thời tạo khoảng trống cho người đọc suy ngẫm và đồng sáng tạo.
Trước hết, qua hình tượng chim mẹ và chim con, Nguyễn Đình Tâm gợi một quan niệm sâu sắc về tình yêu. Mẹ yêu con nhưng chính mẹ lại “đẩy con... rời tổ ấm”. “Tổ ấm” gợi sự bình yên, che chở, còn động từ “đẩy” mạnh mẽ tưởng như đối lập với yêu thương. Nhưng mẹ hiểu rằng nếu mãi ở trong tổ, con sẽ không thể biết bay. Bởi thế, lời dạy “đói hãy bay đi” không phải sự lạnh lùng mà là tình yêu tỉnh táo: yêu không phải sống thay mà là chuẩn bị cho người mình yêu khả năng tự sống. Câu thơ “đặt cược đời mình theo những cánh Hải âu” càng cho thấy phía sau sự buông tay là lo âu, hi vọng và niềm tin sâu sắc của mẹ.
Đặc biệt, hành trình “tổ ấm – biển cả – sóng bão – đôi cánh – bầu trời” đã trở thành biểu tượng cho hành trình trưởng thành của con người. “Biển” là cuộc đời rộng lớn; “sóng”, “bão” gợi thử thách; “đập cánh” tượng trưng cho việc đánh thức bản lĩnh; còn “bầu trời tự do” là tương lai và khát vọng. Muốn có bầu trời phải rời tổ; muốn trưởng thành phải dám đối diện thử thách và tự đập đôi cánh của chính mình. Thể thơ tự do, nhịp điệu linh hoạt cùng những động từ mạnh như “đẩy”, “lao”, “vượt”, “đập” càng làm nổi bật hành trình ấy.
Qua bài thơ, nhận định đã được soi sáng: tượng trưng giúp cái hữu hình chuyên chở cái vô hình, cái riêng chạm tới cái phổ quát. Tuy nhiên, tượng trưng không phải sự bí hiểm hay gán ghép; nó chỉ có giá trị khi tư tưởng được sinh ra tự nhiên từ hình tượng. Nhà thơ kiến tạo biểu tượng, còn người đọc bằng trải nghiệm của mình tiếp tục mở rộng ý nghĩa của nó.
Từ cánh hải âu rời tổ, Nguyễn Đình Tâm khiến ta nhận ra một quy luật của đời sống: đôi khi chỉ khi rời nơi an toàn, con người mới biết đôi cánh mình có thể đưa mình đi xa đến đâu. Đó chính là sức mạnh của biểu tượng và cũng là chiều sâu của thơ ca.
Xem thêm >> -
Viết bài văn bằng trải nghiệm từ một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” (Nguyễn Hữu Quý)
Thơ ca không chỉ ghi lại những gì con người nhìn thấy mà còn lưu giữ những rung động khó gọi thành tên của tâm hồn. Bởi vậy, Nguyễn Hữu Quý từng nhận định: “Thơ là sứ giả của tình yêu”. “Sứ giả” là người truyền đi một thông điệp; còn “tình yêu” được hiểu theo nghĩa rộng, là tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, con người và cuộc sống. Nhận định khẳng định thơ bắt nguồn từ những rung động chân thành, rồi bằng nghệ thuật đưa tình cảm ấy đến với người đọc, tạo nên sự đồng điệu.
Đọc “Bếp lửa” của Bằng Việt, ta nhận ra tình yêu bà cháu chính là nguồn mạch làm nên bài thơ. Hình ảnh “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm / Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” không chỉ gợi một vật thể quen thuộc mà còn gợi hơi ấm của tình bà. Từ bếp lửa, người cháu nhớ về những năm tháng gian khó và thấu hiểu hơn cuộc đời “lận đận” của bà. Tình cảm riêng ấy nhờ nghệ thuật đã trở thành tiếng nói chung về lòng biết ơn cội nguồn. Cũng viết về tình thân, “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh bắt đầu từ âm thanh quen thuộc của làng quê, để từ đó đánh thức kí ức về người bà và mở rộng thành tình yêu Tổ quốc: “Vì lòng yêu Tổ quốc / Vì xóm làng thân thuộc / Bà ơi, cũng vì bà.”
Tuy nhiên, thơ không thể chỉ có cảm xúc mà thiếu nghệ thuật. Tình yêu cần được chuyển hóa thành hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu để có khả năng lay động. Đồng thời, người đọc cũng phải tiếp nhận bằng trải nghiệm và cảm xúc của mình. Khi ấy, tình yêu của nhà thơ được tái sinh trong những tâm hồn khác.
Vì thế, “Thơ là sứ giả của tình yêu” bởi thơ bắt đầu từ trái tim, đi qua nghệ thuật và tìm đến trái tim. Một bài thơ hay không chỉ nói lên điều nhà thơ yêu mà còn đánh thức trong người đọc khả năng yêu thương và trân trọng cuộc đời.
Xem thêm >>






Danh sách bình luận