Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 9

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: VÌ CHÚNG MÌNH LÀ BẠN (Vũ Thu Hương) (Lược bỏ phần đầu. Ba đứa trẻ con chung xóm rủ nhau đi chơi, bất ngờ nhặt được gói kẹo sô cô la ngoài đường. Hí hửng mang về nhưng đó chỉ là túi kẹo giả được bọc sỏi cẩn thận. Ba đứa xấu hổ sợ bị mấy người lớn trong quán gần chỗ chúng nhặt được gói kẹo sẽ cười chê)

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 9 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN

Quảng cáo
Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

VÌ CHÚNG MÌNH LÀ BẠN

(Vũ Thu Hương)

(Lược bỏ phần đầu. Ba đứa trẻ con chung xóm rủ nhau đi chơi, bất ngờ nhặt được gói kẹo sô cô la ngoài đường. Hí hửng mang về nhưng đó chỉ là túi kẹo giả được bọc sỏi cẩn thận. Ba đứa xấu hổ sợ bị mấy người lớn trong quán gần chỗ chúng nhặt được gói kẹo sẽ cười chê)

Thực ra có một thằng nhóc da trắng kính cận đứng ở một góc khuất nhận ra tụi nó. Thằng nhóc nhà ở khu tập thế, vô tình đi học về cùng lúc, nhận ra những cô bạn cùng lớp khi đứng chờ mẹ gửi xe trong hầm gửi xe. Nó đã thấy đám thanh niên này chơi xấu nhưng không biết làm sao để cản những cô bạn. Và điều đó làm nó day dứt thật lâu, thật lâu ...

Sáng nay, nó đã kể cho mẹ nghe câu chuyện trò đùa tai quái của đám thanh niên trong khu tập thể khiến ba cô bạn buồn phiền và xin phép mẹ đập heo để mua một bịch kẹo tặng ba cô nhỏ chưa từng quen biết. Con heo đó thẳng nhóc kính cận nuôi từ đầu hè bằng chính công sức mồ hôi của nó. Mỗi lần lau nhà được thưởng 2000 đồng, rửa bát không làm bể bát thưởng 3000 đồng ... Đã mấy lần nhăm nhe xin mẹ đập heo để mua món này món kia nó muốn nhưng mẹ không đồng ý. Quả đúng là con heo còn đói, lắc qua lắc lại lọc xọc và những món nó muốn mua thì hoàn toàn không phải cần có khẩn cấp.

Khi nghe nó bàn chuyện đập heo để mua kẹo chocolate, mẹ đã gật đầu đồng ý ngay lập tức, cả mẹ và nó cũng kiếm kê kỹ lưỡng tài sản. Mẹ dắt nó đi siêu thị, cho thêm nó 10 mấy ngàn mới đủ để mua một túi kẹo loại nó vẫn rất thích. Nó hình dung ra ngay cảnh ba cô bạn kia hn sẽ rất thích chí.

Thằng nhóc đứng cạnh tới khi ba cô bạn vừa vội bước qua, nó đỏ lựng mặt, phải cố hết sức bình tĩnh để nói rằng chỉ muốn tặng cái kẹo các bạn. Ba cô bạn có chút ngỡ ngàng. Nó giải thích vài câu ngắn gọn, dúi túi kẹo vào tay các bạn. Không để các bạn kịp từ chối, nó nhao đi như một chú sóc, chạy vụt lên cầu thang khu tập thể.

Giờ thì ba cô bé và cậu nhóc đã là bộ tứ thân thiết. Thi thoảng cậu nhóc vẫn thích thú xin mẹ xuống xóm chợ nơi nhà ba cô nhỏ cùng chơi. Thi thoảng ba cô nhỏ cũng thích thú lên tập th nhà tầng của cậu chơi cậu nhóc vẫn ga lăng chia đều những viên kẹo sô cô la cùng đủ loại bánh trái mỗi khi mình được ai đó tặng cho cả bốn người. Ba cô bé nói rằng, nếu không có cậu thì hẳn nhiên đã rất ghét khúc đường thân quen này vì cứ nghĩ phải dúi mặt xuống đất đế đi nhanh, không thì xấu hổ chết đi được nhưng bất ngờ, cậu nhóc nói rằng tại sao các cậu phải xấu hổ, lẽ ra đám người lớn ấy mới đáng xấu hổ ấy chứ.

Có lần ba cô nhỏ hỏi sao cậu lại mua kẹo cho chúng tớ nhưng ngườii không hề quen biết? Cậu nhóc cười hấp háy, mắt cận sau lớp kính dày cộp: Vì tụi mình là bạn mà còn chuyện vì sao khi tặng kẹo mặt cậu lại đỏ nựng, nói năng lắp bắp? Cậu nhóc gãi gãi đầu: Chỉ vì đó là lần đầu tiên tặng quà cho bạn gái những cô bạn rất dễ thương.

(Trích Những chuyện viết hay viết cho thiếu nhi của Vũ Thu Hương NXB Kim Đồng, 2019)

Câu 1 (0.5 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của ngôi kể trong đoạn trích trên.

Câu 2 (1.0 điểm): Tìm những chi tiết thế hiện việc làm của cậu nhóc dành cho những cô bạn cùng lớp ở văn bản. Qua những chi tiết ấy, em thấy cậu nhóc là người như thế nào?

Câu 3 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau:

“Không để các bạn kịp từ chối, nó nhao đi như một chú sóc, chạy vụt lên cầu thang khu tập thể”

Câu 4 (0.5 điểm): Em hiếu thế nào về câu nói: “Ba cô bé nói rằng, nếu không có cậu thì hån nhiên đã rất ghét khúc đường thân quen này vì cứ nghĩ phải dúi mặt xuống đất để đi nhanh, không thì xấu hố chết đi được"

Câu 5 (1.0 điểm): Theo em, qua văn bản trên tác giả muốn gửi tới bạn đọc những thông điệp gì?

PHẦN II. VIẾT (6,0 điếm)

Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật cậu nhóc trong đoạn trích “Vì chúng mình là bạn” của tác giả Vũ Thu Hương trong phần Đọc – hiểu trên.

Câu 2 (4,0 điểm). Việc thiếu hiểu biết về kĩ năng phòng tránh nguy hiểm đang khiến nhiều học sinh trở nên dễ tổn thương trước các mối đe dọa từ xã hội. Đây là một thực trạng đáng lo ngại trong bối cảnh ngày nay. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về giải pháp đế khắc phục tình trạng trên.

Đáp án

Phần I. ĐỌC HIỂU 

Câu 1

Phương pháp giải:

Xác định ngôi kể dựa vào đại từ xưng hô (tôi, ta => ngôi 1; nó, cậu => ngôi 3), nêu tác dụng.

Lời giải chi tiết:

- Ngôi kể: Ngôi thứ ba

- Tác dụng:

+ Đảm bảo tính khách quan cho câu chuyện

+ Người kể chuyỆn có thể kể linh hoạt, bao quát toàn bộ câu chuyện.

Câu 2

Phương pháp giải:

Xác định các chi tiết hành động của cậu nhóc trong cả văn bản, rút ra phẩm chất.

Lời giải chi tiết:

- Những chi tiết thể hiện việc làm của cậu nhóc dành cho những cô bạn cùng lớp ở văn bản:

+ xin phép mẹ đập heo đế mua một bịch kẹo tặng ba cô nhỏ

+ dúi túi kẹo vào tay các bạn

+ chia đều những viên kẹo sô cô la cùng đủ loại bánh trái mỗi khi mình được ai đó tặng cho cả bốn người

- Nhận xét về nhân vật cậu nhóc: vô tư, ngây thơ, hồn nhiên, biết quan tâm, chia sẻ và yêu thương bạn bè.

Câu 3

Phương pháp giải:

Nhận diện dấu hiệu so sánh (từ “như”), nêu tác dụng về hình ảnh và cảm xúc.

Lời giải chi tiết:

- Biện pháp tu từ so sánh: “nó giao nhanh như một chú sóc”

- Tác dụng:

+ Làm tăng sức gợi hình và cảm xúc trong lòng người đọc về một nhân vật dễ mến, giàu lòng tốt.

+ Tô đậm sự nhanh nhẹn, đáng yêu, ngại ngùng của cậu bé khi tặng kẹo.

+ Thể hiện sự hồn nhiên, chân thành, đồng thời cho thấy đó là một hành động xuất phát từ trái tim, không cần đền đáp.

Câu 4

Phương pháp giải:

Phân tích tâm trạng nhân vật trước và sau khi có sự xuất hiện của cậu nhóc.

Lời giải chi tiết:

- Tâm lý mặc cảm, xấu hổ, tổn thương của ba cô bé sau trò đùa ác ý.

- Nhưng cậu nhóc đã giúp các bạn vượt qua mặc cảm, khiến các bạn không còn cảm thấy xấu hổ, mà trái lại còn gắn bó, quý mến nơi từng làm tổn thương mình.

=> Qua đó cho thấy sức mạnh của lòng tốt và tình bạn chân thành có thể xoa dịu những tổn thương, làm thay đổi cảm nhận về một nơi chốn hay một ký ức.

Câu 5

Phương pháp giải:

Khái quát ý nghĩa từ hành động của nhân vật => rút ra thông điệp.

Lời giải chi tiết:

- Qua đoạn trích này, tác giả muốn nhắc nhở người đọc hãy quan tâm, chia sẻ giúp đỡ người khác với một trái tim yêu thương.

- Tình bạn và lòng tốt chân thành có thể làm thay đổi người khác và xoa dịu những tốn thương trong cuộc sống.

- Tình yêu thương và sự tử tế có thế xoa dịu nỗi buồn, xóa bỏ rào cản trong lòng con người.

PHẦN VIẾT

Câu 1

Phương pháp giải:

Xác định hình thức văn bản: đoạn văn phối hợp

Xác định vấn đề: phân tích nhân vật cậu nhóc trong đoạn trích “Vì chúng mình là bạn”

Chú ý các chi tiết miêu tả lời nói, hành động của nhân vật cậu nhóc

Vận dụng các thao tác lập luận

Lời giải chi tiết:

a. Mở đoạn: Giới thiệu khái quát nhân vật cậu nhóc, nêu cảm nhận của mình

b. Thân đoạn: Học sinh cảm nhận về các phương diện sau hoặc chọn cảm nhận sâu về 1 vài khía cạnh mà mình ấn tượng nhất:

* Hoàn cảnh sống: Cậu nhóc sống trong khu tập thể, có cuộc sống giản dị, được mẹ dạy bảo chu đáo.

* Hình ảnh cậu nhóc được tác giả khắc họa chân thực, sâu sắc qua hành động, lời nói, tâm trạng và suy nghĩ:

- Nhân vật cậu nhóc trong đoạn trích là một hình mẫu đáng quý của lòng tốt, sự tử tế và tinh thần vị tha trong sáng. Tuy chỉ là một đứa trẻ, cậu đã thể hiện sự quan tâm, đồng cảm sâu sắc với ba cô bạn khi chứng kiến các bạn bị chơi khăm.

- Không chỉ dừng lại ở sự cảm thông, cậu còn hành động đầy dũng cảm và chân thành: đập con heo đất mà mình chắt chiu suốt cả mùa hè để mua một túi kẹo chocolate tặng các bạn. Điều đó cho thấy cậu là người sống có tình nghĩa, biết chia sẻ và biết làm điều đúng đắn, dù không ai bắt buộc.

- Cậu nhóc cũng rất dễ thương và hồn nhiên dù đỏ mặt, lắp bắp khi tặng kẹo, nhưng vẫn nở nụ cười chân thành và nói rằng: “Vì tụi mình là bạn mà.” Chính hành động giản dị nhưng đầy ấm áp ấy đã khiến ba cô bé cảm thấy được an ủi, vượt qua mặc cảm và từ đó tình bạn giữa họ nảy nở.

=> Cậu nhóc chính là biểu tượng cho một tâm hồn đẹp điều mà bất kỳ ai cũng cần học hỏi và trân trọng.

* Nghệ thuật: Để xây dựng thành công nhân vật cậu nhóc, tác giả Vũ Thu Hương đã:

+ Sử dụng ngôi kể thứ ba vừa khách quan, vừa xúc động,

+ Ngòi bút kể chuyện hấp dẫn, kết hợp khéo léo tự sự với miêu tả và biểu cảm đặc biệt miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

+ Cốt truyện đơn giản, gần gũi với đời sống trẻ em, dễ gây cảm xúc

* Ý nghĩa hình tượng nhân vật và thông điệp:

- Cậu nhóc là biểu tượng cho tâm hồn trong sáng, lòng nhân hậu và sự tử tế của trẻ thơ.

- Qua nhân vật, tác giả gửi gắm thông điệp: Hãy sống yêu thương, biết quan tâm và chia sẻ với người khác, bởi chính điều đó làm nên vẻ đẹp của con người.

c. Kết đoạn: Khẳng định lại vẻ đẹp của nhân vật

Câu 2

Phương pháp giải:

Xác định vấn đề cần bàn luận: việc thiếu hiểu biết về kĩ năng phòng tránh nguy hiểm và giải pháp khắc phục

Liên hệ thực tế, trình bày rõ ràng, diễn đạt trôi chảy

Vận dụng các thao tác lập luận

Lời giải chi tiết:

a. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Việc thiếu hiểu biết về kĩ năng phòng tránh nguy hiểm.

b. Thân bài:

* Giải thích:

- Thiếu hiểu biết là sự hạn chế trong nhận thức, thông tin, kiến thức về các tình huống nguy hiểm tiềm ẩn trong đời sống như lừa đảo, bạo lực, xâm hại, tai nạn ...

- Thiếu kỹ năng phòng tránh nguy hiểm nghĩa là không có hoặc không thành thạo các phương pháp tự bảo vệ, xử lý tình huống bất ngờ, đối phó với các mối đe dọa.

=> Khi kết hợp, hai yếu tố này khiến học sinh dễ rơi vào thế bị động, trở thành “con mồi” lý tưởng cho các hành vi xấu.

* Thực trạng, biểu hiện

- Nhiều học sinh dễ bị dụ dỗ bởi các đối tượng lừa đảo qua mạng xã hội.

- Không biết cách từ chối khi bị bạn bè rủ rê tham gia các hành vi nguy hiểm như đua xe, đánh nhau, sử dụng chất kích thích.

- Không biết kêu cứu khi bị xâm hại hoặc rơi vào tình huống bất thường (ví dụ: đi lạc, gặp người lạ rình rập ... ).

- Bị tổn thương tâm lý do bị bắt nạt học đường nhưng không dám nói ra.

* Nguyên nhân

- Chủ quan:

+ Học sinh chủ quan, thiếu cảnh giác, cho rằng “chuyện đó không xảy ra với mình".

+ Thiếu kỹ năng sống, chưa từng được hướng dẫn cụ thể cách xử lý tình huống.

- Khách quan:

+ Chương trình giáo dục còn nặng lý thuyết, thiếu thực tế.

+ Cha mẹ, giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn kỹ năng phòng tránh nguy hiểm.

+ Xã hội ngày càng phức tạp với nhiều nguy cơ ẩn giấu, nhất là trong môi trường mạng.

* Hậu quả:

- Đối với cá nhân: Dễ trở thành nạn nhân của bạo lực, xâm hại; bị tổn thương tâm lý, mất khả năng tự vệ và lòng tin vào xã hội.

- Đối với gia đình/nhà trường: Tăng lo lắng, áp lực quản lý; làm suy giảm môi trường giáo dục an toàn.

- Đối với xã hội: Gây bất ổn, tạo ra một thế hệ yếu kém về bản lĩnh, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực.

* Giải pháp:

- Bản thân học sinh phải chủ động trang bị kỹ năng: Tự học qua sách báo, internet đáng tin cậy, tham gia các khóa kĩ năng, thảo luận cùng thầy cô, bạn bè.

- Gia đình và nhà trường đồng hành, hỗ trợ: Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, kế chuyện thực tế, diễn tập tình huống.

- Sự hỗ trợ của cộng đồng và các tổ chức xã hội: Phát động các chiến dịch truyền thông giáo dục kĩ năng cho học sinh.

c. Kết bài:

- Khẳng định vấn đề nghị luận: Trong một thế giới đầy biến động, hiểu biết và kỹ năng phòng tránh nguy hiếm không còn là lựa chọn mà là điều bắt buộc đối với mỗi học sinh.

- Liên hệ bản thân: Là một học sinh, em sẽ chủ động học hỏi kỹ năng sống, luôn cảnh giác, và chia sẻ kiến thức đó với bạn bè xung quanh.

- Thông điệp: Như lời dạy của triết gia John Locke: “Giáo dục không phải là chuẩn bị cho cuộc sống; giáo dục chính là cuộc sống.". Hãy bắt đầu cuộc sống ấy bằng việc học cách bảo vệ chính mình.

  • Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 10

    I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: …”Có nơi nào như Đất nước chúng ta Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ Khi giặc đến vạn người con quyết tử Cho một lần Tổ quốc được sinh ra

  • Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 8

    I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (1) Giới trẻ ngày nay thích chạy theo xu hướng thời trang không giống ai và hành động theo những trào lưu đi ngược với truyền thống, họ cho rằng như thế mới “đỉnh”, nhưng thực tế không phải vậy, cùng lắm chỉ có thể nói đó là một chút cá tính mà thôi.

  • Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 7

    PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: (1) Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát Giữa đôi bờ rào rạt lúa ngô non

  • Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 6

    I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: NGÀY VUI THỐNG NHẤT (Trường Nguyễn) Không có gì vui hơn Bằng ngày vui Toàn thắng

  • Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 5

    Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: (…) VŨ NHƯ TÔ - Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý:

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 9 - Ôn Thi Vào Lớp 10 Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
close