Quảng cáo
  • Viết đoạn văn phân tích 5 khổ thơ cuối bài thơ Ta về với mẹ ta thôi (Nguyễn Sỹ Đại)

    Năm khổ thơ cuối bài thơ của Đồng Đức Bốn là cuộc thức tỉnh tâm hồn đầy sâu sắc của người con sau những dâu bể cuộc đời. Điệp khúc "Ta về với mẹ ta thôi" vang lên như một mệnh lệnh từ trái tim, một sự dứt khoát từ bỏ thế giới xô bồ. Trải qua "chín phương" nếm đủ đắng cay, chứng kiến lòng người tráo trở "người gần... dần dần xa xôi", nhân vật trữ tình nhận ra danh lợi chỉ là ảo ảnh. Việc lựa chọn trở lại làm người "nhà nông" thuần hậu, chấp nhận "ngu ngơ" trước sang giàu chính là sự đại trí giả ngu để giữ lấy thiên lương thuần khiết. Đỉnh cao của triết lý nhân sinh nằm ở câu thơ: "Không làm chi nữa, cũng là làm con". Khi rũ bỏ mọi danh vọng, tư cách thiêng liêng nhất, bình yên nhất của đời người chính là được làm đứa con bé bỏng trong lòng mẹ.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ: "...hạnh phúc bình thường và giản dị lắm ...hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên. " (Trích Hạnh phúc - Thanh Huyền)

    Đoạn thơ của Thanh Huyền là một định nghĩa chạm tới trái tim về giá trị của hạnh phúc đích thực. Không xa hoa, lộng lẫy, hạnh phúc hiện hình qua những lát cắt bình dị của đời sống gia đình. Đó là thanh âm mong ngóng của “tiếng xe về mỗi chiều của bố”, là không khí ấm cúng khi “cả nhà quây quần”, hay nét chăm sóc đáng yêu của người chị qua bát cơm đầy. Đặc biệt, câu thơ “đêm về không có tiếng mẹ ho” lắng đọng một tình yêu thương sâu sắc, khi hạnh phúc chỉ đơn giản là sự bình an, khỏe mạnh của đấng sinh thành. Bằng thể thơ tự do, nhịp điệu thủ thỉ và biện pháp liệt kê kết hợp điệp từ “là”, tác giả đã vẽ nên một bức tranh gia đình tràn ngập hơi ấm. Đoạn thơ nhắc nhở ta rằng: hạnh phúc không ở đâu xa, nó kết tinh từ những điều giản dị và thiêng liêng ngay dưới mái nhà của mỗi người.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết đoạn văn phân tích nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong bài thơ Dòng mương xanh của nhà thơ Thuận Hữu

    Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong Dòng mương xanh của Thuận Hữu đạt đến độ chín nhờ sự đối lập tài tình giữa hai thế hệ. Quá khứ hiện lên đầy xót xa qua hình ảnh "lưng mẹ còng" và "vết nẻ chân chim", biểu tượng cho sự bất lực của con người trước thiên tai "đất khát", "úng lụt". Nhưng đến hiện tại, tư thế ấy hoàn toàn đảo ngược với hình ảnh tương phản mạnh mẽ: "Con đứng thẳng bóng đè lên vạt ruộng". Không còn là cái bóng cam chịu đổ dài, thế hệ sau xuất hiện với dáng vóc kiêu hãnh của người làm chủ. Sự chuyển dịch từ hình ảnh "mẹ còng" đến "con thẳng" không chỉ là sự thay đổi dáng hình, mà là biểu tượng cho sự vươn mình, đổi đời của cả một vùng đất nhờ sức mạnh lao động.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cây-thổ-lộ trong bài thơ Ở Suối Giang có cây-thổ-lộ (Trần Đình Việt)

    Hình ảnh "cây-thổ-lộ" trong bài thơ của Trần Đình Việt là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo, kết tinh nhu cầu tự chữa lành và khát vọng thấu cảm của con người. Giữa núi rừng Suối Giàng, cái cây không còn là thực thể tự nhiên vô tri, mà đã trở thành một "tri kỷ tĩnh lặng", nơi lưu giữ những bí mật sâu kín nhất mà người Mông không thể sẻ chia cùng ai. Nó biểu tượng cho sự lắng nghe tuyệt đối, bao dung và không phán xét. Khi con người áp má vào vỏ cây thầm thì, mọi gánh nặng lo âu dường như được san sẻ, nỗi đau dịu lại và niềm vui nhân đôi. Tuy nhiên, tầng sâu triết lý của biểu tượng này chỉ thực sự phát lộ ở khổ cuối, khi nhà thơ đối lập giữa "thế-giới-cây" và "thế-giới-người". Việc tìm một cái cây để trút bầu tâm sự giữa đại ngàn thì dễ, nhưng tìm được một "người-thổ-lộ" đồng điệu trong nhân gian lại muôn vàn khó khăn. Biểu tượng "cây-thổ-lộ" vì thế vừa là điểm tựa tinh thần ấm áp, vừa là lời thức tỉnh xót xa về sự cô đơn và khoảng cách giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa của hình thức đối thoại (hỏi - đáp) trong bài thơ Ngẫu vấn (Hoàng Đăng Khoa)

    Hình thức đối thoại (hỏi – đáp) trong Ngẫu vấn của Hoàng Đăng Khoa không đơn thuần là sự tương tác bề nổi, mà thực chất là một cuộc độc thoại nội tâm đầy sâu sắc được khách quan hóa. Tác giả đã mượn tiếng nói của vạn vật vô tri như cái chăn, đám mây, cúc họa mi... để đối diện với chính những băn khoăn, nghi ngại bên trong con người. Chuỗi câu hỏi dồn dập mở ra các chiều kích từ hữu hình đến vô hình, nhưng câu trả lời của vạn vật lại luôn hướng ngược về "người". Vạn vật không giải thích chính nó, mà phản chiếu thế giới quan của nhân sinh: đám mây biến dạng do góc nhìn của người, cái chăn ấm nhờ hơi người. Biện pháp nghệ thuật này biến bài thơ thành một tấm gương soi triết lý. Nó giúp con người nhận ra rằng, mọi câu trả lời về cuộc đời, về tự do hay giới hạn suy cho cùng không nằm ở thế giới khách quan, mà ẩn giấu ngay trong tâm thức và sự tự thức tỉnh của chính mình.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích những đặc sắc nghệ thuật trong đoạn trích của bài thơ Trước nghĩa trang Trường Sơn (Hoàng Trần Cương)

    Đoạn trích Trước nghĩa trang Trường Sơn của Hoàng Trần Cương ghi dấu ấn nghệ thuật mạnh mẽ nhờ ngôn từ gân guốc và hình ảnh thơ đầy táo bạo. Giữa không gian "không gió", "không mưa", nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh so sánh cực kỳ độc đáo: "Cỏ... xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt". Cách ví von sắc lạnh, góc cạnh này không chỉ gợi tả sự khắc nghiệt của vùng đất lửa mà còn làm nổi bật tư thế "đứng canh" kiên cường, bất khuất của những người lính đã nằm xuống. Bên cạnh đó, chất lính kiêu hùng còn thấm đượm trong giọng điệu thơ vừa tự vấn, vừa xót xa qua câu hỏi tu từ: "Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa / Mà các anh quay mặt, tắt lòng". Các từ ngữ địa phương như "chi rứa", "lật đật" được đan cài tự nhiên, tạo nên một sắc thái tình cảm chân thành, mộc mạc nhưng có sức công phá trực diện vào cảm xúc người đọc. Chính sự gai góc trong bút pháp đã giúp tác giả tạc nên một tượng đài bất tử về người lính Trường Sơn.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích mach cảm xúc của bài thơ Bài hát đắp đường (Xuân Quỳnh)

    Mạch cảm xúc của “Bài hát đắp đường” là sự vận động tự nhiên, đi từ không khí lao động hăng say ở hiện tại, ngược dòng về quá khứ gian khổ để rồi vỡ òa trong niềm vui tương lai. Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh khơi nguồn cảm xúc bằng tiếng hát khỏe khoắn, khẩn trương của những người đắp đường. Nhưng ngay sau đó, mạch thơ lắng lại, nhường chỗ cho niềm thương xót nghẹn ngào khi ký ức tràn về. Đó là nỗi ám ảnh về "nước đồng chiêm" gặm mòn da thịt mẹ, là sự chia cắt đau đớn của tình thân giữa muôn trùng nước trắng. Để rồi, từ những đau thương ấy, mạch cảm xúc bừng sáng, reo vui khi con đường hoàn thành. Hình ảnh người mẹ xỏ dép vào chân và những bước chân "màu xuân" hướng về hợp tác xã đã khép lại bài thơ trong niềm lạc quan, hy vọng. Sự chuyển dịch nhịp nhàng này khiến bài thơ trở thành khúc ca lay động về sự đổi đời của một vùng quê.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh những tấm áo trong văn bản Áo (Lưu Quang Vũ)

    Trong bài thơ "Áo" của Lưu Quang Vũ, hình ảnh những tấm áo là biểu tượng sâu sắc cho tình mẫu tử thiêng liêng và sự hy sinh thầm lặng của người mẹ. Thuở nhỏ, tấm áo là thế giới "dịu dàng", ôm ấp con qua những trưa hè xanh thẳm. Khi con lớn khôn, tấm áo lại gói ghém cả sự chắt chiu, lo toan của mẹ: từ việc dành dụm mua áo mới ngày Tết đến "từng mụn vá vai" khi nhà đông anh em. Tấm áo càng bạc màu, càng sờn chỉ theo năm tháng thì nếp nhăn trên mắt mẹ càng hằn sâu bởi nỗi nhọc nhằn sớm hôm. Qua hình tượng chiếc áo, nhà thơ không chỉ ngợi ca lòng mẹ bao la như biển hồ, luôn sưởi ấm đời con bằng những đường kim mũi chỉ, mà còn chạm đến góc khuất xúc động nhất của sự hy sinh khuất lấp phía sau niềm vui con trẻ.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong văn bản Những con đường (Lưu Quang Vũ)

    Qua bài thơ Những con đường, Lưu Quang Vũ đã phác họa thành công mạch cảm xúc vận động đầy tinh tế của nhân vật trữ tình. Đoạn trích mở đầu bằng tiếng lòng da diết, nâng niu khi lùi sâu vào miền hoài niệm tuổi thơ. Đó là sự giao thoa giữa cái ngọt ngào của hương cau, ánh đom đóm với cái xót xa trước "xóm nghèo mái rạ", trước cái bóng còm cõi, "quét hoài không hết lá khô" của người bà. Thế nhưng, nhân vật trữ tình không chìm đắm trong u buồn. Sự thức tỉnh về những con đường xưa "bó luôn tầm mắt" đã chuyển hóa thành niềm hân hoan phơi phới trước cuộc sống mới. Nhìn cảnh xóm làng đồng lòng hiến đất mở đường, tâm hồn nhà thơ như mở ra "rộng biển lúa vàng". Đó là sự chuyển dịch kỳ diệu từ cái tôi cô đơn, chật hẹp sang cái ta chung rộng lớn, ngập tràn niềm tin và khát vọng dựng xây ngày mai thênh thang của đất nước.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về sự vận động cảm xúc của tác giả trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ (Nguyễn Doãn Việt)

    Mạch cảm xúc trong “Từ đôi gánh mẹ” của Nguyễn Doãn Việt là hành trình vận động tự nhiên từ hồi tưởng xót xa đến thấu hiểu lẽ đời sâu sắc. Thuở ban đầu, cảm xúc của người con gắn liền với niềm hoài niệm, đau đớn khi chứng kiến dáng mẹ “liêu xiêu” dưới sức nặng của “bốn mùa cay cực” và sự chia cắt của chiến tranh. Thế nhưng, theo dòng chảy thời gian, nỗi thương cảm ấy không dừng lại ở sự xót thương thụ động mà dần nâng cấp thành sự thức tỉnh mạnh mẽ trong nhận thức. Từ đôi gánh vật chất “sắn khoai”, con nhận ra mẹ đang gánh cả “thời gian dầu dãi”, gánh cả triết lý “gừng cay muối mặn”. Chính từ đôi vai vẹt mòn của mẹ, con trưởng thành, thấu suốt “nhân thế lẽ đời” và biết phân định “nặng nhẹ” ở đời. Để rồi cuối cùng, cảm xúc kết tinh thành niềm tự hào thiêng liêng khi bóng hình mẹ hóa thành “dáng cội nguồn”, khiến lòng con “rưng rưng” bái phục.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...