-
Viết bài văn nghị luận phân tích nhân vật người mẹ trong văn bản Sợi dây thun (Hiền Phạm)
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, hình ảnh người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận với vẻ đẹp của sự hy sinh và lòng bao dung. Đến với truyện ngắn "Sợi dây thun" của tác giả Hiền Phạm, người đọc lại một lần nữa bị chạm thức bởi hình tượng một người mẹ vô danh nhưng hiện lên đầy chân thực qua đức tính tiết kiệm và sự vun vén thầm lặng cho gia đình.
Vẻ đẹp của người mẹ trước hết được khắc họa qua một thói quen tưởng chừng như kỳ lạ, đó là cất giữ những sợi dây thun phế thải sau mỗi buổi chợ. Đối với người con, một sợi dây thun cột bịch nước mía, bịch chè là thứ vô giá trị, sẵn sàng vứt vào đống rác. Thế nhưng, mẹ lại trân trọng nhặt nhạnh từng sợi, cất vào một chỗ và nhẹ nhàng bảo: "Con không nên phí phạm vậy, con không dùng lúc này nhưng có thể vài bữa nữa con cần tới". Lời dặn ấy không chỉ là sự tiếc rẻ một vật dụng nhỏ, mà là triết lý sống "tích tiểu thành đại", là nếp nghĩ căn cơ của một người phụ nữ đã đi qua nhiều gian khó. Mẹ hiểu rằng mọi vật trên đời đều có giá trị riêng nếu ta biết trân trọng và sử dụng đúng lúc.
Sự vun vén của mẹ không hề mang tính ích kỷ hay bủn xỉn, mà tất cả đều hướng về con cái. Đỉnh điểm của câu chuyện là khi đứa con gái xin tiền mua dây nhảy để chơi cùng bạn bè. Thay vì tốn kém, mẹ đã đưa ra một bịch dây thun tích góp suốt một năm trời để nối thành một sợi dây dài. Hành động ấy vừa giải quyết được mong muốn của con, vừa là một bài học trực quan vô cùng thấm thía. Mẹ đã biến những thứ tưởng như bỏ đi thành một món quà tinh thần vô giá, giúp con nhận ra ý nghĩa cốt lõi của việc tiết kiệm.
Tác phẩm khép lại bằng một chi tiết vô cùng đắt giá ở tương lai: khi sợi dây buộc tóc của mẹ đứt, đứa con đã trao lại cho mẹ sợi dây thun mà mình tự tay cất giữ. Nụ cười mãn nguyện của mẹ lúc này chính là phần thưởng lớn nhất. Mẹ hạnh phúc vì nếp sống, phẩm chất tốt đẹp của mình đã được truyền thụ và tiếp nối vẹn nguyên sang thế hệ mai sau.
Bằng lối viết giản dị, ngôn ngữ mộc mạc và ngôi kể thứ nhất đầy chân thực, Hiền Phạm đã khắc họa thành công một người mẹ tảo tần, thông thái. Nhân vật người mẹ trong "Sợi dây thun" chính là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam truyền thống – những người giữ lửa cho gia đình từ chính những điều bình dị nhất.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn nghị luận phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật An trong đoạn trích của truyện ngắn "Miền đất trong lòng" (Trần Duy Thành)
Hành trình trở về của An trong "Miền đất trong lòng" là cuộc dịch chuyển tâm lí từ áp lực, kiệt quệ sang bình yên, tự tại. Đối diện với không gian quê hương thân thuộc và dáng vẻ hao gầy của ba má, những toan tính, mệt mỏi sau bao năm thiên di nơi xứ người hoàn toàn tan biến. Bữa cơm nhà giản dị với canh chua, cá kho mang lại cho An cảm giác "đủ đầy" mà sự xa hoa nước Úc không thể khỏa lấp. Câu trả lời em trai với "giọng nhẹ tênh" đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng: cô chọn ngừng chạy đua để quay về sống cho gia đình. Giữa nhịp sống chậm rãi ở quê nhà, không còn tiếng máy móc báo động hay áp lực ca trực, tâm hồn An thực sự được chữa lành. Diễn biến tâm lí ấy chứng minh An đã rũ bỏ được hào nhoáng phù phiếm để chạm vào hạnh phúc đích thực.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn nghị luận cảm nhận về nhân vật thầy Huân trong văn bản Người đánh trống trường (Ma Văn Kháng)
Trong "Người đánh trống trường", thầy Huân không hiện lên với hào quang vĩ đại mà chạm đến trái tim người đọc bằng vẻ đẹp của lòng tự trọng và sự tận tụy. Trái ngược với người đồng nghiệp Ngọc Kim bóng bẩy, thầy Huân thô mộc, nói năng vụng về, lại mang khuyết tật hình thể. Thế nhưng, đằng sau cái vẻ "lù đù, chậm chạp" ấy là một nhân cách lớn. Thầy tỉ mẩn sửa từng lỗi nhỏ trong giáo án, tự làm đồ dùng dạy học và kiên trì đứng trước gương cả năm trời tập co vai để có một diện mạo chỉn chu nhất trước học trò. Động lực giúp thầy vượt qua những giới hạn của bản thân chính là "tình thương, lòng trắc ẩn và danh dự của kẻ có học". Thầy Huân là minh chứng cho thấy: giá trị của một người thầy không nằm ở sự hoạt ngôn hay danh vọng, mà ở sự tận tâm thầm lặng, dâng hiến trọn vẹn cho học sinh.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn phân tích tình cảm của Lê dành cho Sơn trong văn bản ở truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (Nguyễn Minh Châu)
Trong Những vùng trời khác nhau, tình cảm Lê dành cho Sơn đã vượt qua định kiến ban đầu để trở thành thứ tình đồng chí keo sơn, máu thịt. Ba năm cùng chia lửa trên mâm pháo cũ kỹ, họ gắn bó đến mức chia nhau từng "tấm giát nằm", "tấm áo sặc mùi thuốc đạn". Giây phút chia tay, lời khẳng định của Lê: "Tớ rất tin... Tớ rất tin cậu!" không chỉ là sự tin tưởng vào năng lực của một pháo thủ, mà là sự phó thác thiêng liêng. Lê trao gửi cả vùng trời quê hương Nghệ An cho Sơn bảo vệ với một niềm tin tuyệt đối, không chút hoài nghi. Cái bắt tay và lời từ biệt "Đi nhá!" tuy giản dị, ngắn gọn nhưng lại nén chặt tình cảm sâu kín, biến Sơn trở thành người đồng đội thân thiết nhất trong cuộc đời lính của Lê.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn phân tích đặc điểm của một nhân vật (tự chọn) trong băn bản Người thầy đầu tiên
Nhân vật Y trong tác phẩm là một hình tượng văn học đầy chân thực về sức mạnh của sự thức tỉnh và lòng tự tôn. Bản thân là một đứa trẻ mồ côi bị quăng quật giữa sóng gió cuộc đời, Y từng buông thả mình trong lối sống bụi bặm, hoang dã của một kẻ vô công rồi nghề nơi quán xá vạn chài. Thế nhưng, đằng sau lớp vỏ bọc bất cần ấy lại là một đốm lửa tự trọng chờ được thắp sáng. Sự xuất hiện của những người lính trẻ và ánh mắt khinh thị của con gái làng chài chính là cú hích mạnh mẽ, buộc Y phải nhìn lại chính mình. Việc khai gian hồ sơ để đi bộ đội không phải là sự gian dối vụ lợi, mà là khát vọng mãnh liệt muốn chứng tỏ giá trị bản thân. Khi bước chân ra đảo chìm Trường Sa, đối mặt với thử thách đầu đời, cái gai góc của một gã trai làng biển đã kết tinh thành lòng dũng cảm, biến Y thành một người lính kiên cường, sẵn sàng bảo vệ từng tấc đất quê hương.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn phân tích hình tượng nhân vật "tôi" trong đoạn trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước (Nguyễn Thị Bình)
Nhân vật "tôi" trong đoạn trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước hiện lên là một tâm hồn giàu lòng trắc ẩn và sự thấu cảm sâu sắc. Trên tuyến đường Trường Sơn khốc liệt, điểm nhìn của "tôi" không chỉ dừng lại ở tầm vóc vĩ đại của lịch sử mà hướng vào những số phận thầm lặng. Đứng trước những cô gái thanh niên xung phong tuổi đôi mươi "lem luốc" nhưng vẫn "cười cười nói nói", lòng tác giả lại "se lại" đầy xót xa. Đó là sự thấu suốt về những thiệt thòi, hy sinh của người phụ nữ khi hòa bình lập lại: mất đi thanh xuân, hạnh phúc riêng tư và cả nghề nghiệp. Tình thương ấy tiếp tục mở rộng đến những chiến sĩ công binh trẻ măng đang lặng lẽ lội sông bắc cầu, những người đáng ra phải được ngồi trên ghế nhà trường. Qua nét bút hoài niệm, nhân vật "tôi" không chỉ là người chứng kiến lịch sử, mà còn là một trái tim nhân hậu, luôn đau đáu nỗi biết ơn và niềm trăn trở trước những hy sinh vô danh của một thế hệ anh hùng.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật bà Chiu trong văn bản Lúa dự (Vũ Thanh Lịch)
Trong đoạn trích "Lúa dự", diễn biến tâm trạng của bà Chiu là một nốt trầm đau xót trước sự phai nhạt của các giá trị truyền thống. Ban đầu, chứng kiến cô con dâu xúc cơm cúng một cách chóng vánh, công nghiệp, trong bà dấy lên nỗi ngậm ngùi, xót xa. Bà hụt hẫng khi con cái không kịp hít hà cái "thơm bùi thơm ngậy" của hạt ngọc quê hương, để rồi lặng lẽ "kéo vạt áo lau mắt" đầy tủi thân. Sự tổn thương ấy đẩy lên đỉnh điểm thành nỗi bàng hoàng khi con trai, con dâu đòi phá bỏ nhà cửa, ruộng lúa dự để xây biệt thự nghỉ dưỡng kiếm lời. Tiếng nói yếu ớt bảo vệ cội nguồn của bà bị gạt phắt bởi tư duy tiền bạc thực dụng. Nhận ra sự bất lực của mình, đầu óc bà "đóng băng", lưỡi "tê cứng" trong sự cô độc tột cùng. Hình ảnh cây rơm lúa dự như "giọt nước đóng bánh" kết tinh trọn vẹn bi kịch chết lặng của người già trước cơn lốc hiện đại hóa.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về nhân vật Ất trong đoạn trích Ông tiên ăn mày (trích Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh)
Trong đoạn trích Ông tiên ăn mày của Vũ Trinh, nhân vật Ất ngời sáng như một biểu tượng cho lòng nhân hậu và vị tha của con người Việt Nam. Dù lớn lên trong hoàn cảnh bất hạnh – mồ côi, bị anh chị hắt hủi, chiếm đoạt tài sản – Ất chưa bao giờ để hoàn cảnh tha hóa tâm hồn. Bản tính "hay làm điều thiện" của anh được thử thách cao nhất khi gặp ông lão ăn mày ốm yếu, bẩn thỉu. Không hề gớm ghiếc hay xua đuổi, Ất ân cần đỡ vào nhà, rót nước nóng, nhường cơm và chịu đựng sự phiền toái suốt đêm bằng sự nhẫn nại, chân thành. Lòng tốt không vụ lợi của Ất chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa phúc báo. Qua nhân vật, tác giả không chỉ ca ngợi một tấm lòng vàng giữa cuộc đời xô bồ, mà còn khẳng định một chân lý sâu sắc của dân gian: sự lương thiện bản chất mới là thứ tài sản quý giá nhất của con người.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật Đăng trong văn bản Tâm hồn mẹ (Nguyễn Huy Thiệp)
Nhân vật Đăng trong truyện ngắn "Tâm hồn mẹ" của Nguyễn Huy Thiệp là biểu tượng cho thế giới nội tâm tổn thương nhưng tràn ngập khát vọng yêu thương của trẻ thơ. Mồ côi mẹ từ năm hai tuổi, Đăng lớn lên trong nỗi cô đơn xa cách với người lớn, luôn dùng hệ quy chiếu "nếu là mẹ sẽ thế nào?" để soi xét thế giới. Sự nhạy cảm quá mức khiến cậu dễ tủi thân, đau đớn đến tái dại khi bị chạm vào nỗi đau mồ côi. Bản tính thụ động và sự khát khao tình mẹ đã đẩy Đăng tự nguyện "lệ thuộc" vào Thu – cô bạn cùng tuổi nhưng mang thiên tính bảo bọc. Phút giây nông nổi định lao vào tàu điện và sự thức tỉnh sau tai nạn của Thu khẳng định một sự trưởng thành đau đớn. Tiếng gọi "Mẹ..." trong cơn sốt của Đăng không chỉ là nỗi nhớ, mà là sự bừng ngộ về một "tâm hồn mẹ" thiêng liêng, bao dung đang che chở cho cuộc đời côi cút của chính mình.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp của nhân vật ông Tư Mốt trong đoạn trích Thương quá rau răm (Nguyễn Ngọc Tư)
Trong đoạn trích Thương quá rau răm, Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa thành công nhân vật ông trưởng ấp Tư Mốt với vẻ đẹp nhân hậu và tấm lòng vị dân sâu sắc. Đứng trước cảnh nghèo khó, bệnh tật của cù lao Mút Cà Tha, ông luôn trăn trở với quyết tâm: "không chết vì bệnh, chỉ chết vì già". Sự xuất hiện của bác sĩ Văn như đốm lửa sưởi ấm niềm hy vọng của ông. Không chỉ dừng lại ở trách nhiệm, ông Tư Mốt còn bộc lộ sự tinh tế, trọng nghĩa tình khi dặn dân làng phải "đối xử cho tử tế" với người xứ lạ. Nhận ra nỗi cô đơn của Văn, ông rủ rỉ trò chuyện, nhờ thanh niên đến đàn hát, cố rịt chân người thầy thuốc bằng cái tình nồng hậu của đất cù lao. Vẻ đẹp của ông Tư Mốt chính là biểu tượng cho chiếc cầu nối nhân văn, là hiện thân của tình người ấm áp, mộc mạc mà bền bỉ nơi miền sông nước Nam Bộ.
Xem thêm >>






Danh sách bình luận