Soạn bài Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu SGK Ngữ văn 11 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắnTrình bày báo cáo nghiên cứu kinh thành Thăng Long. Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 11 tất cả các môn - Kết nối tri thức Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh Quảng cáo
Đề bài Trình bày báo cáo nghiên cứukinh thành Thăng Long. Phương pháp giải - Xem chi tiết Dựa vào bài viết cụ thể Lời giải chi tiết Bài tham khảo 1: Chào thầy, cô và các bạn, Như mọi người đã biết, kiến trúc kinh thành, cố đô phong kiến ở Việt Nam luôn mang theo cái gì đó rất chung và rất riêng với văn hóa kiến trúc của Trung Hoa và nó luôn thể hiện nét đẹp truyền thống, văn hóa lịch sử lâu đời của người Việt. Bên cạnh quần thể kiến trúc Cố đô Huế từ xưa, người Việt vẫn luôn tự hào với kiến trúc thành Thăng Long – tòa thành đã trải qua biết bao năm tháng của lịch sử. Như chúng ta đã biết, kinh thành Thăng Long luôn được gắn với một sự kiện lịch sử nổi tiếng đó là vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành Thăng Long. Cùng với đó là hàng loạt các cung điện, lăng tẩm được xây dựng, nổi bật là công trình Điện Kính Thiên cao tới 2 tầng rộng hơn 2300 mét vuông. Thời Hậu Lê, thành Thăng Long vẫn được coi là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước. Về vị trí, kinh thành Thăng Long tọa lạc ở phía Bắc Việt Nam và được giảm dần về diện tích qua các triều đại. Ở thời Hậu Lê, hầu như không xây dựng thêm các chùa tháp mà chủ yếu là trùng tu. Thay vào đó, hàng loạt phủ đệ mới của giới quý tộc, quan lại trung ương được xây dựng, tạo ra hình ảnh một kinh thành Thăng Long đầy quyền uy, thâm nghiêm. Về kiến trúc, trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng, nhưng đến nay vẫn còn thấy được cả di tích trên mặt đất, dưới lòng đất, di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật,… tạo thành hệ thống các di tích được đánh giá là quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích đô thị cổ, trung, cận, hiện đại của nước ta. Hiện tại, trong khu vực trung tâm Thành cổ Thăng Long - Hà Nội còn lại 5 điểm di tích nổi trên mặt đất phân bố theo trục Bắc – Nam, còn gọi là “Trục chính tâm”, “Trục ngự đạo”, gồm có: Kỳ Đài, Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và kiến trúc cổng hành cung thời Nguyễn, di tích nhà và hầm D67, các công trình kiến trúc Pháp… Kinh thành Thăng Long từ thời Lý được xây dựng theo cấu trúc ba vòng thành, gọi là “tam trùng thành quách”: vòng thành ngoài là La thành hay Đại La thành, vòng thành giữa là Hoàng thành (thời Lý - Trần - Lê gọi là Thăng Long thành, thời Lê còn gọi là Hoàng thành) và vòng thành trong cùng gọi là Cấm thành (hay Cung thành). Cấm thành từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18 hầu như không thay đổi và còn bảo tồn cho đến nay hai vật chuẩn rất quan trọng: Thứ nhất là nền điện Kính Thiên xây dựng thời Lê sơ (1428) trên nền điện Càn Nguyên (sau đổi tên là điện Thiên An) thời Lý, Trần. Đó vốn là vị trí của núi Nùng (Long Đỗ - Rốn Rồng), được coi là tâm điểm của Cấm thành và Hoàng thành, nơi chung đúc khí thiêng của non sông đất nước theo quan niệm phong thuỷ cổ truyền, mà di tích hiện còn là nền điện với bậc thềm và lan can đá chạm rồng thế kỷ 15. Thứ hai là cửa Đoan Môn, cửa Nam của Cấm thành thời Lý - Trần - Lê. Trên vị trí này hiện nay vẫn còn di tích cửa Đoan Môn thời Lê. Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), trong sách Đại Việt địa dư chí toàn biên có đoạn mô tả khá rõ ràng về Hoàng thành Thăng Long thời Lê: “Ở giữa là Cung thành, trong cửa Cung thành là Đoan Môn. Trong Đoan Môn là điện Thị Triều, trong điện Thị Triều là điện Kính Thiên. Bên hữu Kính Thiên là điện Chí Kính, bên tả là điện Vạn Thọ. Bên hữu Đoan Môn là Tây Trường An, bên tả là Đông Trường An, ở giữa có Ngọc Giản. Trong Hoàng thành và ngoài Cung thành ở phía Đông là Thái Miếu, sau là Đông Cung”. Để giúp thế hệ sau và bạn bè quốc tế hiểu thêm về lịch sử Việt Nam cùng Hoàng thành Thăng Long, đêm tour “Giải mã Hoàng thành Thăng Long” đã được tổ chức thành công. Đây không chỉ là một sự kiện quảng bá văn hóa, du lịch mà nó còn là cách để thế hệ sau tôn vinh, tự hào về lịch sử, văn hóa của dân tộc mình. Trải qua thăng trầm của lịch sử, chiến tranh, thuộc địa… Kinh thành Thăng Long vẫn nằm đó như một minh chứng trường tồn của lịch sử, về một thời huy hoàng đã qua đi của dân tộc. Chúng ta – thế hệ con cháu phải biết bảo tồn, gìn giữ và phát huy vẻ đẹp của Hoàng thành đến thế hệ tương lai và bạn bè quốc tế. Dưới đây là một số nguồn tham khảo để em có thể hoàn thiện bản báo cáo của mình: 1. TTXVN (2010), Thăng Long thời Lê, thời Mạc-Lê, Trung Hưng (1428-1788), Ban Tuyên giáo Trung ương. 2. Sở Du lịch Hà Nội (2020), Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội. 3. Quang Dương (2018), Hoàng thành Thăng Long – Dấu ấn văn hóa, kiến trúc độc đáo, Báo Xây dựng. Trên đây là toàn bộ phần trình bày báo cáo của em, cảm ơn thầy, cô và các bạn đã chú ý lắng nghe.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
Kính thưa thầy/cô và các bạn, Sử thi “Đăm Săn” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của dân tộc Ê-đê, phản ánh rõ nét đời sống và tư duy của cộng đồng người Tây Nguyên. Đoạn trích “Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời” kể về hành trình chinh phục đầy khát vọng của người anh hùng Đăm Săn. Không chỉ khắc họa hình tượng nhân vật, đoạn trích còn tái hiện đời sống tinh thần, tín ngưỡng cũng như bức tranh sinh hoạt đặc sắc của người Ê-đê, tạo nên một nét hấp dẫn riêng. Trước hết, đoạn trích làm nổi bật đặc điểm kiến trúc nhà ở của người Ê-đê thông qua hình ảnh nhà sàn dài. Đây là kiểu nhà truyền thống đặc trưng của cư dân Tây Nguyên, có cấu trúc riêng biệt từ cầu thang, hệ thống cột cho đến cách bố trí không gian sinh hoạt. Những chi tiết như: “cầu thang như cầu vồng”, “nhà dài dằng dặc”, “bảy hàng cột chao qua chao lại” hay “các xà ngang xà dọc thếp vàng” đã góp phần gợi lên quy mô rộng lớn và vẻ đẹp độc đáo của ngôi nhà. Dù không miêu tả quá chi tiết, nhưng những hình ảnh tiêu biểu ấy cũng đủ để khắc họa dấu ấn văn hóa đặc trưng của người Ê-đê. Không gian nhà dài không chỉ là nơi sinh sống mà còn là trung tâm của các hoạt động cộng đồng. Tại đây diễn ra nhiều sinh hoạt văn hóa như hội họp, lễ hội, kể sử thi hay cúng tế thần linh. Đoạn trích đã tái hiện khung cảnh đón tiếp khách vô cùng long trọng: từ việc chuẩn bị chỗ ngồi, bày biện thuốc, trầu cau đến việc nấu nướng và dâng rượu. Những vật dụng như ché tuk, ché êbah với hoa văn tinh xảo, giá trị lớn cho thấy sự giàu có và sung túc của gia chủ. Qua đó, có thể thấy đời sống vật chất của người Ê-đê gắn liền với những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ phản ánh đời sống vật chất, đoạn trích còn làm nổi bật tính cách của người Ê-đê. Họ hiện lên là những con người hiếu khách, hào sảng và nhiệt tình. Khi đón tiếp Đăm Săn, dân làng đã chuẩn bị những thứ tốt nhất để tiếp đãi, thể hiện sự trân trọng đối với khách quý. Đây cũng là nét đẹp văn hóa quen thuộc trong đời sống của các cộng đồng Tây Nguyên. Bên cạnh đó, các chi tiết về “cồng chiêng” và “rượu cần” đã góp phần làm rõ thêm phong tục tập quán của người Ê-đê. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, gắn với niềm tin về thần linh. Việc sở hữu nhiều cồng chiêng thể hiện quyền lực và vị thế của gia chủ. Trong khi đó, rượu cần là biểu tượng của sự gắn kết cộng đồng, thường xuất hiện trong các dịp lễ hội và nghi thức quan trọng. Có thể thấy, những yếu tố như kiến trúc, vật dụng, phong tục trong đoạn trích không chỉ phản ánh đời sống sinh hoạt mà còn thể hiện sự giàu có và sức sống của cộng đồng người Ê-đê. Như vậy, “Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời” không chỉ làm nổi bật hình tượng người anh hùng mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về đời sống văn hóa của người Ê-đê. Qua đó, ta nhận ra giá trị to lớn của sử thi trong việc lưu giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại ngày nay. Tài liệu tham khảo:
Trên đây là phần trình bày của em về vấn đề đã nêu. Kính thưa thầy/cô và các bạn, Trong thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử và văn hóa của vương quốc Champa đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Các công trình nghiên cứu được công bố dưới dạng sách và bài báo, góp phần cung cấp những hiểu biết ban đầu về vùng đất này. Sau năm 1975, các nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp tục kế thừa và phát triển, không chỉ bổ sung tư liệu mà còn mở rộng hướng tiếp cận, làm rõ nhiều khía cạnh còn bỏ ngỏ trước đó. Các nghiên cứu dần đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể như đời sống văn hóa, xã hội, tín ngưỡng, lễ hội của người Chăm. Trước hết, nguồn tư liệu về Champa có thể tìm thấy trong các bộ sử của Trung Quốc như Hán thư, Lương sử, Tân Đường thư, Tống sử… Những tài liệu này cung cấp cơ sở để các nhà nghiên cứu dựng lại lịch sử các giai đoạn như Lâm Ấp, Hoàn Vương hay Chiêm Thành. Tuy nhiên, do được ghi chép từ góc nhìn bên ngoài nên những thông tin này thường rời rạc và chưa thật sự chính xác. Bên cạnh đó, các học giả phương Tây, đặc biệt là người Pháp, đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát thực địa và để lại những tư liệu có giá trị. Một trong những ghi chép sớm nhất thuộc về Marco Polo, người đã mô tả khá chi tiết đời sống của người Chăm sau chuyến đi vào năm 1298. Ngoài ra, các nhà truyền giáo như Odoric de Pordennone cũng ghi lại những phong tục tập quán của cư dân Champa trong các tác phẩm của mình. Về phía Việt Nam, các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư hay Đại Nam nhất thống chí cũng có đề cập đến Chiêm Thành, chủ yếu xoay quanh các mối quan hệ ngoại giao và quân sự. Dù vậy, đây vẫn là nguồn tư liệu chính thống quan trọng để đối chiếu với các văn bia Champa. Nhiều công trình nghiên cứu hiện đại đã tiếp cận sâu hơn vào đời sống văn hóa – xã hội của người Chăm. Chẳng hạn, Trần Quốc Vượng đã đề cập đến không gian văn hóa Chăm trong tổng thể văn hóa Việt Nam. Trương Sỹ Hùng phân tích vai trò của tôn giáo trong đời sống tinh thần, đặc biệt là ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Huỳnh Công Bá lại tập trung vào lịch sử hình thành và phát triển của Champa, đồng thời làm rõ quá trình hội nhập của người Chăm vào cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, các nghiên cứu về giáo dục cũng góp phần cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho việc tìm hiểu lĩnh vực này. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về Champa và người Chăm rất đa dạng, bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, những nghiên cứu mang tính hệ thống về giáo dục của người Chăm trong lịch sử vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, đời sống học tập của học sinh người Chăm hiện nay cũng chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn là cần thiết nhằm có cái nhìn toàn diện và góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của cộng đồng này. Tài liệu tham khảo:
Trên đây là phần trình bày của em về vấn đề đã nêu.
Xem thêm
Bài tham khảo 2
Bài tham khảo 3
|
Danh sách bình luận