Soạn bài Nữ phóng viên đầu tiên SGK Ngữ văn 11 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắnHãy chia sẻ những điều bạn đã biết về đời sống của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến và những năm đầu thế kỉ XX. Nhận xét cách mở đầu văn bản của tác giả. Quảng cáo
Video hướng dẫn giải Trước khi đọc Câu hỏi (trang 66, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hãy chia sẻ những điều bạn đã biết về đời sống của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến và những năm đầu thế kỉ XX. Phương pháp giải: Dựa vào hiểu biết của bản thân để trả lời câu hỏi này. Lời giải chi tiết: Cuộc sống phụ nữ Việt Nam thời phong kiến và trong những năm đầu thế kỉ XX gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại. Ví dụ như trong thời phong kiến, phụ nữ không được phép đi học, ra ngoài chơi mà luôn phải ở nhà chăm con, làm công việc nhà. Trong khi đọc 1 Câu 1 (trang 66, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Nhận xét cách mở đầu văn bản của tác giả. Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn mở đầu. Lời giải chi tiết: Cách mở đầu văn bản rất sáng tạo khi đặt ra câu hỏi tu từ, gợi sự tò mò của người đọc, đồng thời nó cũng hé mở ra phần nội dung của tác phẩm ở phía sau. Trong khi đọc 2 Câu 2 (trang 67, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Tóm tắt các hoạt động chính của nhân vật. Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn văn giới thiệu về bà. Lời giải chi tiết: - Bà tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, sinh 1914, mất 2005 - Bà học Trường Trung học nữ sinh bản xứ đến tú tài rồi bước vào nghề báo. - Bà làm phóng viên thường với bút hiệu YM, Nguyễn Văn MYM. - Bài thơ Tình già của bà được đăng báo và bà trở lên nổi tiếng - Bà ủng hộ phong trào Thơ mới, tham gia diễn thuyết và dần trở lên nổi tiếng. Trong khi đọc 3 Câu 3 (trang 67, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Chú ý các trích dẫn trực tiếp. Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn tiếp theo. Lời giải chi tiết: - Trong số báo 228 ra ngày 14/12/1933… đăng lên báo - Các cuộc diễn thuyết của bà ở Hội Khuyến học Sài Gòn… Trong khi đọc 4 Câu 4 (trang 68, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hình ảnh được sử dụng có thể gợi ấn tượng gì cho người đọc. Phương pháp giải: Chú ý vào hình ảnh được sử dụng. Lời giải chi tiết: Hình ảnh đó thể hiện buổi diễn thuyết của bà rất thu hút với đông đảo giới trẻ, trí thức tham gia. Mọi người đều lắng nghe một cách chăm chú. Trong khi đọc 5 Câu 5 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Lời nói và hành động của nhân vật thể hiện tư tưởng như thế nào? Những tư tưởng đó có ảnh hưởng gì đến xã hội. Phương pháp giải: Chú ý vào những phát ngôn và hành động của bà. Lời giải chi tiết: Lời nói, hành động của nhân vật thể hiện tư tưởng dân chủ với những quan điểm mới về bình đẳng giới. Những tư tưởng đó dần được khai thông, nhiều phụ nữ An Nam đã đi ngược lại với những lễ giáo cũ trong xã hội, từ đó khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ với đàn ông trong xã hội. Trong khi đọc 6 Câu 6 (trang 69, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Ngoại hình nhân vật được khắc họa như thế nào, nhằm mục đích gì. Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn miêu tả ngoại hình của nhân vật. Lời giải chi tiết: Ngoại hình nhân vật được khắc học là một người thấp lùn, dáng vẻ núc ních, mặt má miếng bầu, môi nhọn như mỏ chim, đôi mắt sáng ngời, thông minh… → Tác giả nhằm khẳng định, phụ nữ cũng có thể có tướng lãnh đạo, tài giỏi như đàn ông Trong khi đọc 7 Câu 7 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Những thông tin này gợi cho bạn suy nghĩ gì. Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn cuối. Lời giải chi tiết: Gợi cho ta suy nghĩ về những công lao đóng góp của bà đang dần bị lãng quên, mai một, người đời đang dần quên đi nó. Sau khi đọc 1 Câu 1 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Văn bản được triển khai theo trình tự nào? Đánh giá hiệu quả của việc triển khai văn bản theo trình tự đó. Phương pháp giải: Chú ý vào những chi tiết thể hiện trình tự của văn bản. Lời giải chi tiết: Văn bản được trình bày theo trình tự thời gian, tác giả trình bày theo chuỗi từ thời niên thiếu cho đến những năm tháng cuối đời của nhân vật. → Phù hợp với nội dung của bài viết, hơn nữa nó không chỉ khái quát đầy đủ về cuộc đời của bà mà còn giúp người đọc dễ dàng nắm bắt được thông tin trong quá trình tìm hiểu văn bản. Sau khi đọc 2 Câu 2 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Phong trào xã hội nào đã được nói đến trong văn bản? Theo bạn, cách tác giả viết về phong trào ấy có điểm gì đặc biệt? Phương pháp giải: Chú ý vào tư tưởng của nhân vật. Lời giải chi tiết: Phong trào xã hội được nói đến trong văn bản là phong trào dân chủ, đấu tranh vì quyền của phụ nữ, về bình đẳng giới. Theo em, cách tác giả viết về phong trào ấy là kể ra những đóng góp, cống hiến của Manh Manh nữ sĩ đối với phong trào đấu tranh vì nữ quyền qua những tác phẩm, bài báo viết về quyền phụ nữ; những bài diễn thuyết truyền cảm hứng của bà đối với thế hệ sinh viên, trí thức đương thời về quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Sau khi đọc 3 Câu 3 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Hãy nhận xét về cách giới thiệu chân dung nhân vật trong văn bản. Theo bạn, chân dung ấy có được tái hiện một cách khách quan hay không? Vì sao? Phương pháp giải: Chú ý vào đoạn miêu tả chân dung nhân vật. Lời giải chi tiết: Cách giới thiệu chân dung nhân vật trong văn bản rất chân thực, không chỉ qua dáng vẻ mà còn cả về nét mặt. → Chân dung của bà được tái hiện một cách khách quan, đầy đủ. Vẻ đẹp của bà không đến từ ngoại hình, mà nó đến từ tính cách, nhận thức, tư tưởng tiến bộ của bà về chủ nghĩa nữ quyền, về quyền bình đẳng vốn có mà phụ nữ nên có. Sau khi đọc 4 Câu 4 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Bạn hình dung như thế nào về không khí thời đại được tái hiện trong văn bản? Phương pháp giải: Chú ý vào những yếu tố thể hiện hoàn cảnh của thời đại. Lời giải chi tiết: Không khí thời đại được tái hiện trong văn bản đó là lúc làn sóng đấu tranh, biểu tình diễn ra mạnh mẽ đặc biệt ở miền Nam nhằm đòi quyền lợi cho phụ nữ. Sau khi đọc 5 Câu 5 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Qua văn bản, bạn biết thêm điều gì về phong trào Thơ mới? Phương pháp giải: Đọc kỹ tác phẩm và rút ra kết luận. Lời giải chi tiết: Qua văn bản, ta có thể biết được rằng phong trào Thơ mới đã từng diễn ra rất mạnh mẽ và nhận được sự săn đón nồng nhiệt của quần chúng nhân dân. Nội dung của Thơ mới khá đa dạng, nó không chỉ xoay quanh những câu chuyện về nỗi xa quê, xa nhà, tình yêu quê hương, đất nước mà nó còn mang nội dung về bình đẳng giới, về nữ quyền mà những người phụ nữ muốn gửi gắm. Sau khi đọc 6 Câu 6 (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Bài viết gợi cho bạn suy nghĩ gì về vị thế của phụ nữ trong các cuộc vận động xã hội? Phương pháp giải: Chú ý vào thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Lời giải chi tiết: Bài viết gợi cho em suy nghĩ rằng vị thế của phụ nữ trong các cuộc vận động xã hội chưa bao giờ là ít hay yếu kém hơn đàn ông. Sự đóng góp của họ trong các phong trào luôn là to lớn và nó cũng góp phần vào sự thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Kết nối đọc - viết Câu hỏi (trang 70, SGK Ngữ Văn 11, tập hai): Vị thế của người phụ nữ ngày hôm nay đã thay đổi như thế nào so với vị thế của phụ nữ Việt Nam đầu thế kỉ XX? Dựa vào kiến thức thực tế và những thông tin đã đọc được trong văn bản Nữ phóng viên đầu tiên, hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) trình bày những hiểu biết của bạn về vấn đề này. Phương pháp giải: Dựa vào kiến thức của bản thân và văn bản để trả lời câu hỏi này. Lời giải chi tiết: Từ đầu thế kỉ XX, sự du nhập của hệ tư tưởng phương Tây ngày càng mạnh mẽ, trong đó là tư tưởng về nữ quyền. Bởi vậy, sự trỗi dậy của phụ nữ tiến bộ thời kì này là rất lớn. Khi họ nhận ra bản thân mình có thể làm được nhiều điều to lớn như đàn ông, mọi người xung quanh, họ đã tập trung để đòi quyền lợi cho mình. Đó là quyền lợi chính đáng và hợp pháp của phụ nữ mà bấy lâu nay vẫn bị bỏ qua. Họ khao khát được đi làm, được tự do cống hiến cho xã hội, sống đúng với bản chất và quyền lợi của mình, được hưởng đãi ngộ và những chính sách cần thiết. Để làm được điều đó, họ viết báo, làm thơ, biểu tình… để đòi quyền lợi cho chính mình. Trong đó phải kể đến là Manh Manh thi sĩ, người luôn đi đầu và có đóng góp to lớn cho phong trào nữ quyền này.
Bài đọc
>> Xem chi tiết: Văn bản Nữ phóng viên đầu tiên
+
Nữ phóng viên đầu tiên Trần Nhật Vy Khoảng giữa năm 1931, làng báo Sài Gòn xuất hiện một nữ phóng viên chính hiệu ở tuần báo Phụ nữ Tân văn. Nữ phóng viên này là ai vậy? Nói “nữ phóng viên chính hiệu” là bởi “trước đó ở Hà Nội cũng như Sài Gòn người giữ mục phụ nữ hay viết bài về phụ nữ, mặc dù kí tên là “Thị nọ Thị kia” nhưng đều là kí giả có râu”. (Ngoạ Long. 10 năm làng báo Sài Gòn, báo Đuốc Nhà Nam, số ra ngày 17/10/1969). Đó là Manh Manh nữ sĩ. Manh Manh nữ sĩ tên thật là Nguyễn Thị Kiêm (1914 – 2005), con ông tri huyện Nguyễn Đình Trị, quê quán ở Gò Công . Ông Trị từng là chủ huyện Lái Thiêu, Thủ Dầu Một 2, nghị viên hội đồng thành phố chung “sổ” (liên danh tranh cử) với giáo sư Nguyễn Văn Bá, chủ bút báo Công Luận thời Diệp Văn Kỳ làm chủ nhiệm báo Thần Chung. Ông Trị cũng là “bầu” của đội bóng đá Ngôi Sao Xanh và sau đó đội Ngôi Sao Gia Định lừng lẫy một thời. Bà học Trường Trung học Nữ sinh bản xứ đến tú tài rồi bước vào nghề báo. Ban đầu bà chỉ là phóng viên thường viết các mục nhỏ với bút hiệu YM, Nguyễn Văn MYM. Sau khi Phan Khôi đảng bài thơ Tình già (Phụ nữ Tân văn, số 122, ngày 10/3/1932) thì tên tuổi bà sáng lên qua bút danh Nguyễn Thị Manh Manh hoặc tên thật khi ủng hộ Thơ mới và cổ vũ cho nữ quyền. [...] Bà Kiêm xuất hiện trong thời kì này khi mới mười bảy tuổi. Có lẽ vì còn quá trẻ nên bà chỉ làm phóng viên bình thường thỉnh thoảng viết một bài về nữ quyền. Sau đó, khi mạnh mẽ ủng hộ Thơ mới, bà bắt đầu nổi tiếng với những cuộc diễn thuyết, những bài viết về bình đẳng giới và Thơ mới. Không chỉ ở Sài Gòn, bà còn đi diễn thuyết ở Huế, Hà Nội, Hải Phòng Nam Định,... Thậm chí báo Phụ nữ Tân văn còn mở hẳn mục Thơ mới bên cạnh mục Văn uyển đảng các loại thơ cũ. Trong số báo 228 ra ngày 14/12/1933, bà viết bài trả lời ông Hoàng Tâm báo Đuốc Nhà Nam: “Vì có nhiều vấn đề đáng quan tâm hơn là thơ nên chúng tôi hoàn lại việc đăng lên báo. Nay ông có nhắc đến sửa soạn ăn mừng thắng trận của ông tôi xin soạn một bài Thơ mới của tôi viết cách nay hai tháng đăng lên báo. Nếu ông có dư thời giờ và báo Đuốc Nhà Nam có thiếu bài, ông cứ cho tôi hay, tôi sẽ đưa mấy bài Thơ mới cho ông đăng lên báo Duốc Nhà Nam và phê bình luôn thể” Còn cuộc diễn thuyết của bà ở Hội Khuyến học Sài Gòn (SAMIPIC, tức Hội Nam Kỳ Trí Đức Thể dục, nay ở số 606 đường Trần Hưng Đạo, Quận 5), Hoài Thanh - Hoài Chân ghi nhận trong Thi nhân Việt Nam: “Từ hai tháng trước, hôm 26 Juillet 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn Hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán dương Thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đồng người nghe như thế. Trong buổi diễn thuyết ấy, bà nói: “Muốn cho tình tứ không vì khuôn khổ mà bị đẹt mất (không lớn lên nổi) thì rất cần phải có một lối thơ khác, do lề lối nguyên tắc rộng rãi hơn. Thơ này khác hơn lối thơ xưa nên gọi là Thơ mới”. Và “chỉ mong lối Thơ mới được nhiều người để ý đến và nó có thể trở nên một lối thơ thông dụng để tả một cách thiết thực, rõ ràng những thi cảm của các nhà thi sĩ”. Thơ mới với sự cổ vũ của Nguyễn Thị Kiêm đã tạo ra một cuộc tranh luận dài trên báo chí cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Không chỉ nói, bà còn sáng tác Thơ mới, những bài Hai cô thiếu nữ, Viếng phòng vắng,... để lại ấn tượng mạnh mãi về sau. Về nữ quyền trong buổi nói chuyện ở Hội chợ Phụ nữ ngày 26/5/1932 tổ chức tại vườn Tao Đàn, bà nói: “Đối với những người như chúng tôi đây, ngu mà muốn học cho khôn, dốt mà muốn học cho giỏi, không biết mĩ thuật mà biết yêu mến mĩ thuật, không biết văn chương mà muốn cảm mến văn chương thì Nữ lưu học hội thiệt là cần ích cho chúng tôi lắm”. Tại Huế, đêm 03/5/1934, trong bài nói chuyện “Dư luận nam giới với phụ nữ tân tiến”, bà nói: “Chủ nghĩa phụ nữ là làm thế nào để giải phóng phụ nữ khỏi những lễ giáo hủ bại, binh vực 2 quyền lợi cho phụ nữ, kiếm những cách sinh hoạt cho chị ern để sự sống của mình được hoàn toàn 3 hơn, và nâng cao trình độ trí thức của mình”. Làm vậy là bởi khi ấy vẫn còn quan niệm: “Đến thế kỉ thứ XX, đàn bà An Nam lại có nảy sanh một số người quái gở! Họ vượt ra khỏi buồng the, chẳng theo lễ giáo cũ: Họ cũng đi học đi làm như đàn ông. Họ tự do đi, đứng đến xã hội như thế nào? nói cười, ra giữa công chúng vợt banh), đá cầu, lập hội hè, đến chỗ đông mà tranh cãi”. Tại hội quán Khai Trí Tiến Đức Hà Nội tối ngày 08/9/1934, bà nói: “Đàn bà tân tiến là đàn bà mới, biết đi theo trào lưu xã hội, theo thời đại văn minh hiện chi” và người đàn bà ấy chỉ “xin ngang hàng với đàn ông, xin được đồng một phẩm giá làm người 4 trong xã hội”. Buổi nói chuyện tại Hà Nội của bà được báo chí Hà Nội ghi nhận: “Tối hôm thứ bảy vừa rồi, cái lối cô Kiêm lên diễn đàn, công chúng đã ồ ạt kéo đến hội quán phố Hàng Trống như nước chảy, lũ lượt bọn năm bọn ba, ông có, bà có, trai có, gái có, đến nỗi mấy bác nhà quê đi đường ngơ ngác hỏi nhau: Họ đi xem hội gì đồng thế?” (báo Đông Pháp). Tờ Ngọ Báo viết: “Trong nơi diễn đàn, ngày thường lỏng chống mấy bàn tổ tôm điểm, coi rộng thênh thang hôm nay đà gấp đôi thế cũng chẳng đủ chỗ cho công chúng đúng ngồi. Trên gác, dưới nhà, không một chỗ hở...” (Phụ nữ Tân văn, số 259, ngày 20/9/1934). Sự thành công của bà Nguyễn Thị Kiêm đã tạo ra một phong trào phụ nữ mới hết sức sôi nổi, thúc đẩy các bà tham gia nhiều hoạt động xã hội ở Sài Gòn, Hà Nội. Đáng tiếc, cuối năm 1934, tờ Phụ nữ Tân văn đình bản, bà Kiêm mất chỗ dựa, phong trào cổ vũ Thơ mới và đấu tranh cho nữ quyền của bà bị xẹp xuống. Và bà trở thành một nhà báo bình thường, cộng tác với một số báo đương thời. Sở trường của bà là phỏng vấn. Tuy vậy, bà cũng viết nhiều bài phê bình, ghi chép... Người thấp lùn, bộ tướng núc ních, mặt má miếng bầu, môi nhọn như mỏ chim,... đôi mắt sáng ngời, thông minh, ăn nói mau lẹ, gọn gàng duyên dáng. Đó là nhận xét của nhà báo Ngoạ Long. Với bộ tưởng ấy, có thể nói bà Kiêm là “phụ nữ trời bắt xấu”. Tại buổi nói chuyện ở Hội Khuyến học Sài Gòn, để cử toạ trong phòng nhìn thấy diễn giả bà phải... đúng trên bàn để nói! Vì vậy, trong làng báo Sài Gòn thập niên 1930, ai cũng coi bà như một đồng nghiệp nam. Chỉ có một người nhìn bà là “phụ nữ” đó là nhà báo Lư Khê Trương Văn Em người sau này gá nghĩa với bà năm 1937. Nhưng họ sống với nhau không lâu. Sau khi đứa con đầu lòng mất và bà không thể có con được nữa, hai người thoả thuận chia tay. Năm 1950, bà lấy chồng người Pháp và qua Pháp ở cho đến ngày mất. Đối với văn học Việt Nam, bà cũng có những đóng góp đáng kể, ít ra trong thể Thơ mới ở thập niên 1930. Thế nhưng hầu hết những ghi nhận về văn thơ giai đoạn 1930 – 1945 đều lãng quên bà! (Báo Tuổi Trẻ, ngày 18/6/2015)
- Thu gọn
|






Danh sách bình luận