- Phép chiếu bản đồ là phép biến đổi có hệ thống để chuyển lưới kinh vĩ tuyến trên bề mặt Địa Cầu lên mặt phẳng bản đồ.
- Phép chiếu bản đồ là phép biến đổi có hệ thống để chuyển lưới kinh vĩ tuyến trên bề mặt Địa Cầu lên mặt phẳng bản đồ.
- Khi vẽ bản đồ, người ta phải chuyển bề mặt cong của Trái Đất sang mặt phẳng. Các chuyên gia bản đồ phải thu nhỏ bề mặt Trái Đất với địa hình phức tạp lên bề mặt quả Địa Cầu, rồi từ đó chuyển lên mặt phẳng thông qua các phép chiếu bản đồ.

Chuyển từ mặt cong của Trái Đất sang mặt phẳng
Phép chiếu hình nón:

* Phép chiếu hình nón đứng:
- Trục của hình nón trùng với trục của địa cầu.
- Đặc điểm của lưới kinh tuyến, vĩ tuyến của phép chiếu hình nón đứng:
+ Chỉ có vĩ tuyến tiếp xúc giữa Địa cầu và mặt nón là chính xác.
+ Dùng để vẽ bản đồ ở các vùng đất thuộc vĩ độ trung bình (khu vực ôn đới) và kéo dài theo vĩ tuyến như: Liên bang Nga, Trung Quốc, Hoa Kì,…
Phép chiếu hình trụ:

- Phép chiếu hình trụ là cách thể hiện lưới kinh, vĩ tuyến của Địa cầu lên mặt chiếu là mặt hình trụ, sau đó triển khai mặt trụ ra mặt phẳng.
- Cách thể hiện: Tuỳ theo vị trí tiếp xúc của hình trụ với quả cầu, có các phép chiếu hình trụ khác nhau:
+ Phép chiếu hình trụ đứng.
+ Phép chiếu hình trụ ngang.
+ Phép chiếu hình trụ nghiêng.
* Phép chiếu hình trụ đứng:
- Mặt hình trụ tiếp xúc với Địa cầu theo vòng xích đạo.
- Đặc điểm của lưới kinh tuyến, vĩ tuyến của phép chiếu hình trụ đứng:
+ Kinh tuyến, vĩ tuyến đều là những đoạn thẳng song song và vuông góc với nhau.
+ Khu vực ở xích đạo tương đối chính xác, càng xa xích đạo càng kém chính xác.
+ Dùng để vẽ khu vực xích đạo.
Phép chiếu phương vị:
- Phép chiếu phương vị là phương pháp thể hiện mạng lưới kinh, vĩ tuyến của mặt cầu lên mặt phẳng.
- Có 3 phép chiếu phương vị đó là:
+ Phép chiếu phương vị đứng.
+ Phép chiếu phương vị ngang.
+ Phép chiếu phương vị nghiêng.

- Cách tiến hành: Cho mặt chiếu (giấy vẽ bản đồ) tiếp xúc với cực của Địa Cầu sao cho trục của Địa cầu vuông góc với mặt chiếu.

- Phép chiếu phương vị bảo đảm chính xác ở khu vực trung tâm bản đồ, càng xa trung tâm càng kém chính xác.
- Thường dùng để vẽ bản đồ khu vực quanh cực.
|
Phép chiếu hình nón |
Phép chiếu hình trụ |
Phép chiếu phương vị |
|
|
Ưu điểm |
- Khu vực có vĩ tuyến tiếp xúc tương đối chính xác. |
- Khu vực xích đạo chính xác nhất. |
Khu vực càng gần cực càng chính xác. |
|
Dùng để vẽ bản đồ ở các vùng có vĩ độ trung bình (khu vực ôn đới và kéo dài đến vĩ tuyến). |
Phép chiếu hình trụ bảo tồn được hình dạng và ảnh ánh chính xác về hướng dọc theo các đường thẳng. |
Dùng để vẽ các bản đồ vùng cực. |
|
|
Nhược điểm |
Chỉ có vĩ tuyến tiếp xúc với Địa cầu và mặt nón thì chính xác, các vĩ tuyến khác đều dài ra. |
Chỉ có đường xích đạo là giữ nguyên độ dài còn khoảng cách và độ dài các vĩ tuyến khác đều bị dãn ra, càng xa xích đạo càng bị dãn nhiều. |
Biến dạng tăng dần tỷ lệ với khoảng cách tới điểm tiếp xúc. Càng xa cực, khoảng cách giữa các vĩ tuyến càng dãn ra. |
|
Độ biến dạng tăng dần theo hướng Bắc và Nam của vĩ tuyến chuẩn. Do đó không thể sử dụng phép chiếu này ở các khu vực gần cực. |
Bản đồ sử dụng phép chiếu hình trụ chỉ chính xác ở vùng xích đạo, càng xa xích đạo càng kém chính xác. |
Phép chiếu này chỉ đảm bảo chính xác ở khu vực trung tâm bản đồ, càng xa trung tâm càng kém chính xác. Phép chiếu này thường được dùng để vẽ bản đồ quanh cực. |
|
|
Phép chiếu này chỉ dùng để thành lập bản đồ tỉ lệ 1 : 1000000, ngoài ra còn dùng để thành lập bản đồ tỷ lệ nhỏ ở những lãnh thổ có dạng kéo dài theo hướng Đông Tây và ở vĩ độ trung bình. |
Chỉ thích hợp cho những lãnh thổ có vĩ độ thấp và có dạng kéo dài theo hướng vĩ tuyến |
Chỉ sử dụng để thành lập bản đồ tỉ lệ nhỏ với những lãnh thổ mà đường biên giới của nó dạng gần hình tròn. |
Các bài khác cùng chuyên mục
Danh sách bình luận