Dẫn chứng về Nguyễn Du

Nguyễn Du là Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới, một bậc thầy của ngôn ngữ Tiếng Việt đã dùng ngòi bút nhân đạo sâu sắc để phơi bày nỗi đau nhân thế và khẳng định khát vọng tự do, công lý thông qua kiệt tác Truyện Kiều bất hủ.

Quảng cáo

Hoàn cảnh

  • Nguyễn Du (1765–1820), hiệu Tố Như, là đại thi hào dân tộc Việt Nam cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX.
  • Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc ở Tiên Điền (Hà Tĩnh), cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng triều Lê; cuộc đời ông trải qua nhiều biến động lịch sử thời Lê – Tây Sơn – Nguyễn.
  • Nguyễn Du làm quan dưới triều Nguyễn và để lại nhiều tác phẩm giá trị, tiêu biểu nhất là Truyện Kiều; năm 1965, ông được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hoá thế giới.

Một số dẫn chứng tiêu biểu về Nguyễn Du

Sự thấu cảm

  • Biểu hiện: Thay vì sống trong nhung lụa, Nguyễn Du đã dành 10 năm sống đời thường dân tại vùng quê Thái Bình và Hà Tĩnh sau khi gia đình sa sút. Ông trực tiếp quan sát cảnh lầm than của người lao động, hình ảnh những đứa trẻ chết đói bên đường và thân phận bọt bèo của các ca nhi, kỹ nữ bị xã hội rẻ khinh, từ đó đưa hơi thở đời thực vào văn chương.
  • Kết quả/Ý nghĩa: Những trải nghiệm này giúp ông sáng tạo nên kiệt tác Truyện Kiều chứa đựng chiều sâu tâm lý chưa từng có trong tiền lệ văn học Việt Nam. Thành tựu này đã nâng tầm ngôn ngữ dân tộc, giúp tiếng Việt thoát khỏi sự lệ thuộc vào từ Hán Việt, trở thành công cụ biểu đạt nghệ thuật điêu luyện ngang hàng với các nền văn học lớn trên thế giới.

Tấm lòng nhân đạo

Nguyễn Du - Đại thi hào dân tộc Việt Nam” | Nguyễn Du
  • Biểu hiện: Trong hành trình đi sứ Trung Quốc (năm 1813), Nguyễn Du không chỉ vịnh cảnh mà tập trung viết về những bi kịch nhân sinh qua tập thơ chữ Hán Bắc hành tạp lục. Ông dũng cảm lên án các bạo chúa, bênh vực những phụ nữ tài hoa bị vùi dập và khóc thương cho những người dân nghèo Trung Hoa, thể hiện tư tưởng nhân đạo xuyên biên giới.
  • Kết quả/Ý nghĩa: Tập thơ gồm 131 bài đã khẳng định giá trị nhân bản vượt thời đại, đưa tên tuổi Nguyễn Du vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Thành tựu này là căn cứ cốt lõi để năm 2013, UNESCO chính thức vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới cùng với 190 quốc gia thành viên, khẳng định vị thế của tâm hồn Việt Nam trên bản đồ văn hoá nhân loại.

Ý thức tự tôn Văn hoá

  • Biểu hiện: Giữa thời đại giới trí thức coi chữ Hán là ngôn ngữ chính thống cao quý, Nguyễn Du đã kiên quyết sử dụng chữ Nôm (chữ viết của dân tộc) để viết tác phẩm quan trọng nhất đời mình. Ông chắt lọc những tinh tuý của ca dao, tục ngữ và lời ăn tiếng nói của người lao động bình dân để gọt giũa thành những câu thơ lục bát đạt độ hoàn mỹ về cả âm hưởng và hình ảnh.
  • Kết quả/Ý nghĩa: Sự lựa chọn này đã giúp Truyện Kiều phổ biến đến mức "nhà nhà đều đọc", từ trí thức đến người mù chữ đều thuộc lòng, tạo nên sức sống bền bỉ cho văn hoá nội sinh. Thành tựu này trực tiếp ngăn chặn sự đồng hoá văn hoá từ phương Bắc, bảo tồn tiếng nói dân tộc và xác lập một nền văn học độc lập, giàu bản sắc cho các thế hệ mai sau.

Câu nói nổi tiếng

"Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?" (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)

"Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng."

"Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài."

"Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung."

Các bài khác cùng chuyên mục

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...