Quảng cáo
  • Viết đoạn văn phân tích nội dung chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong hai khổ thơ cuối của văn bản Cho mùa thi (nhà thơ Bình Nguyên Trang)

    Hai khổ thơ cuối bài Cho mùa thi của Bình Nguyên Trang đã gợi lên những cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của tuổi học trò trước mùa thi và giờ phút chia tay mái trường. Hình ảnh “ngọn đèn khuya đổ mồ hôi xuống vở” diễn tả thật xúc động những đêm dài miệt mài học tập của học sinh. Không khí mùa thi hiện lên vừa căng thẳng vừa chan chứa ước mơ, khát vọng. Đặc biệt, khổ thơ cuối mang đậm nỗi buồn chia xa khi “bình minh” cất lên “bài ca chia li”. Những hình ảnh “ve”, “phượng”, “tháng Năm” gợi nhắc tuổi học trò hồn nhiên, trong trẻo và đầy kỉ niệm. Câu thơ “Ngày hôm qua gối đầu lên ngày mai” đã thể hiện thật đẹp sự tiếp nối giữa quá khứ và tương lai. Với giọng thơ nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình cùng nhiều hình ảnh nhân hoá đặc sắc, tác giả đã viết nên khúc ca xúc động về tuổi trẻ và mùa chia tay học trò.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp của hình tượng người bố trong bài thơ "Nhớ bố" của tác giả Vũ Thị Huyền Trang

    Hình tượng người bố trong bài thơ "Nhớ bố" của Vũ Thị Huyền Trang là biểu tượng xúc động cho sự hy sinh thầm lặng của người lao động. Giữa "thành phố ồn ào" và cái lạnh thấu xương, bố hiện lên với dáng vẻ lam lũ: "tay chai sần", "lưng áo bạc bởi phận đời vôi vữa". Công việc phụ hồ nặng nhọc in hằn lên thể xác, vậy mà bố vẫn kiên cường "không một tiếng kêu than ngay cả khi đau yếu". Sự hy sinh ấy càng xót xa hơn qua hình ảnh "cơm người khó nuốt", "bố nghẹn mỗi bữa ăn". Từng hạt cơm xứ người đổi lấy sự khôn lớn của các con đều thấm đẫm mồ hôi và nước mắt cam chịu của cha. Bố chấp nhận gánh lấy mọi giông bão, "nắng dãi trên đầu, mưa nhàu lưng áo" để giữ gìn sự bình yên, no ấm cho gia đình. Hình tượng người bố không chỉ khơi gợi niềm thương cảm sâu sắc mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về lòng biết ơn trước tình phụ tử cao cả.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về văn bản Cuối rễ đầu cành của Bế Kiến Quốc

    Bài thơ Cuối rễ đầu cành của Bế Kiến Quốc là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng biết ơn trong cuộc sống. Qua hình tượng đối lập giữa "rễ" và "cành", tác giả tái hiện hành trình gian truân để tạo nên sự sống. Nếu chiếc cành non kiêu hãnh vươn lên đón "mưa đông nắng hạ" để nảy lộc, thì âm thầm dưới lòng đất, chiếc rễ non phải chịu "tướp máu" giữa sỏi đá khô cằn. Cuộc đời vốn dĩ không tự nhiên xanh tươi; phía sau câu hát rộn ràng của mùa xuân luôn là những "cơn đau" thầm lặng không lời. Hình ảnh "chỉ có đất yêu cây thì đất biết" chạm đến góc khuất của sự hy sinh — đó là tình yêu thương vô điều kiện của cha mẹ, của những thế hệ đi trước. Đoạn thơ lay động tâm hồn người đọc, hướng ta đến lối sống ân nghĩa, biết trân trọng những vất vả khuất lấp sau những thành quả ngọt ngào của cuộc đời.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích mạch vận động cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình trong văn bản Làng tôi (Thuận Hữu)

    Mạch vận động cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình trong bài thơ Làng tôi là một hành trình đi từ trực giác không gian đến chiều sâu của tâm thức. Mở đầu, nhân vật bộc lộ niềm tự hào, kiêu hãnh khi định vị cội nguồn độc đáo của mình: vừa là con của núi đồi vách đá, vừa là con của biển khơi bao la. Tiếp đó, dòng cảm xúc xuôi dòng về quá khứ, hóa thành những thước phim hoài niệm tuổi thơ vừa kỳ vĩ, vừa ấm áp tình thân. Núi dạy con vượt dốc, biển ru con kéo mặt trời; ở đó, bóng dáng bố mẹ hòa vào cánh buồm, sườn đồi đầy thân thương. Để rồi khi lớn lên, đi xa quê hương, nỗi nhớ "quá thể" đã đẩy mạch cảm xúc lên thành những suy tư mang tầm vóc triết lý. Nhân vật thức nhận rằng quê hương không chỉ là nơi sinh ra, mà đã hóa thành máu thịt. Câu thơ cuối là nốt kết tinh cao đẹp, khi tình yêu cái "làng tôi" nhỏ bé đã nâng mọc thành "tình nước và non" rộng lớn, thiêng liêng.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Rễ (Nguyễn Minh Khiêm)

    Bài thơ Rễ của Nguyễn Minh Khiêm chạm đến trái tim người đọc nhờ nghệ thuật nhân hóa và xây dựng hình tượng độc đáo. Hình ảnh “rễ” không còn là vật vô tri mà hiện lên như một con người lao động qua các từ ngữ “lầm lũi”, “lam lũ”, “cực nhọc”. Tác giả đã kiến tạo một hệ thống đối lập nghệ thuật sắc nét: giữa cái “đen đúa”, khuất lấp dưới lòng đất đá và “tầm cao”, “mây biếc”, “hoa quả” rực rỡ phía trên. Chính sự tương phản này đã nâng tầm chiếc rễ cây thành một biểu tượng vĩ đại cho những hy sinh thầm lặng trong cuộc đời. Thể thơ tự do kết thúc bằng một lời khẳng định đầy sức nặng: “Bài ca đích thực / Là từ rễ cất lên”. Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ “rễ” sang “bài ca” đã tôn vinh một cách trang nghiêm giá trị của cội nguồn. Nhờ những nét nghệ thuật đặc sắc đó, bài thơ không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên mà còn là triết lý nhân sinh sâu sắc về lòng biết ơn.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích hình ảnh dòng sông qua cảm nhận của nhân vật trữ tình ta trong đoạn trích Những dòng sông (Bế Kiến Quốc)

    Trong đoạn trích "Những dòng sông", Bế Kiến Quốc đã khắc họa hình ảnh dòng sông như một biểu tượng thiêng liêng của cội nguồn và tâm hồn Việt. Qua cảm nhận của nhân vật "ta", sông không chỉ là cảnh sắc địa lý từ sông Hồng, sông Trà đến sông Cửu Long, mà là "chiếc nôi" sản sinh ra những anh hùng. Thuở nhỏ, sông bao la, ôm ấp tuổi thơ qua những cánh buồm giấy và cánh cò lả. Khi lớn lên, sông trở thành dòng chảy lịch sử, mang theo hồn thiêng sông núi từ thuở Trần Quốc Toản đến những năm tháng "đánh Pháp" oanh liệt. Sông hiến dâng phù sa bồi đắp ruộng đồng, xóa nhòa đói khổ để làm "tấm gương trong" soi bóng cuộc đời mới. Bằng giọng thơ tha thiết và biện pháp điệp từ, tác giả khẳng định: sông chính là dòng sữa mẹ nuôi dưỡng cả thể xác, tâm hồn và ý chí kiên cường của con người Việt Nam qua bao thế hệ.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích tám câu thơ cuối văn bản “Mùa hạ” của Xuân Quỳnh. Trong đoạn văn có sử dụng phù hợp trợ từ (Gạch dưới 1 trợ từ)

    Tám câu thơ cuối bài "Mùa hạ" của Xuân Quỳnh là tiếng lòng đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi thiết tha về thời gian và tuổi trẻ. Bốn câu đầu mở ra không gian mùa hạ đặc trưng với cánh diều cao vút, tiếng dế đêm oi bức và tiếng cuốc thúc giục nắng trưa. Cảnh sắc ấy không chỉ là thiên nhiên mà chính là hiện thân của một sức sống mãnh liệt, cuộn trào. Đối diện với cái hối hả của mùa hạ, nữ sĩ chợt giật mình hỏi: "Mùa hạ đã đi chưa?". Tiếng than "Ôi tuổi trẻ..." làm hiện hình nỗi lo âu trước dòng chảy vô tình của thời gian khi khát khao đời người còn quá bỏng cháy. Thế nhưng, ngay cả khi đối mặt với sự hữu hạn đó, Xuân Quỳnh vẫn giữ một niềm tin bất diệt. Hai câu cuối khẳng định quy luật của tự nhiên: mặt đất mãi xanh, quả ngọt luôn bắt đầu từ sắc hoa thắm thiết. Đoạn thơ khép lại bằng một triết lý nhân sinh cao đẹp: dẫu tuổi trẻ qua đi, những giá trị cốt lõi của tình yêu và sự sống vẫn sẽ trường tồn mãi mãi.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích bức tranh cuộc sống trong đoạn thơ sau: Cha vực dậy cánh rừng sau năm tháng ngủ quên…Khuya ngẫu hứng trà thơm bên bếp lứa hồng.(Màu xanh trở về - Phùng Thị Hương Ly)"

    Đoạn thơ của Phùng Thị Hương Ly là một khúc ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về sự hồi sinh của sự sống. Bức tranh cuộc sống ở đây được mở ra từ hành động “vực dậy” đầy mạnh mẽ của người cha, đánh thức cả một “cánh rừng” sau những “năm tháng ngủ quên” đầy gian khó. Để rồi từ sự thức tỉnh ấy, thiên nhiên cựa mình, phô diễn một sức sống tràn trề: nương chè khoác lên màu áo “mởn xanh”, ao cá lung linh “nghiêng soi nắng vàng”. Đó không chỉ là sự thay đổi của cảnh vật, mà là sự trở lại của hy vọng và niềm vui sau giông bão. Sự hồi sinh ấy được kết tinh trọn vẹn trong không gian ấm áp ban đêm, nơi làn “trà thơm” hòa quyện cùng “bếp lửa hồng”. Bằng những từ ngữ giàu giá trị biểu cảm và hình ảnh nhân hóa tinh tế, tác giả đã khắc họa một bức tranh cuộc sống thanh bình, tươi đẹp. Đoạn thơ nhen nhóm trong lòng người đọc niềm tin bất diệt vào sức sống mãnh liệt của con người và thiên nhiên trước mọi thử thách của cuộc đời.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ được in đậm trong bài thơ Nước vối quê hương (Nguyễn Trọng Định)

    Đoạn thơ thứ hai trong Nước vối quê hương của Nguyễn Trọng Định là một nốt nhạc trầm sâu lắng, khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính thời chống Mỹ. Giữa không gian khắc nghiệt của chiến trường – nơi “rừng đêm mưa xối”, người chiến sĩ không hề cô độc hay nản lòng. Chính “vị nước vối quê hương” đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật đặc sắc, len lỏi vào tâm tư để làm “ngọt ngào” cả những gian khổ. Thức uống bình dị của làng quê nay đã hóa thành dòng sữa tinh thần, là hiện thân của tình mẹ, tình quê hương da diết. Sự đối lập gay gắt giữa cái lạnh giá, dữ dội của thiên nhiên và sự ấm áp, ngọt ngào trong lòng người lính đã làm nổi bật thế giới nội tâm giàu tình cảm. Chính ký ức quê hương yên bình ấy là điểm tựa vững chãi, tiếp thêm sức mạnh vô biên để người lính vượt qua mọi bão giông, giữ trái tim luôn rực cháy lý tưởng.

    Xem thêm >>

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...