Đường lối đổi mới trên các lĩnh vực

V.I.Lênin khẳng định: “Cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí. Ai quên điều đó, người đó không phải là người cộng sản.

Quảng cáo

a)     Đường lối phát triển kinh tế

-       Đường lối công nghiệp hoá:

+ Sự cần thiết phải công nghiệp hóa:

V.I.Lênin khẳng định: “Cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí. Ai quên điều đó, người đó không phải là người cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi, phải công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa”[1].

Việt Nam quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, bỏ qua phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, thiếu nhất là cơ sở vật chất và đang đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế, sức cạnh tranh kinh tế kém.

Trong thời đại khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển, để khắc phục nguy cơ, đi tắt, đón đầu, tận dụng lợi thế của “người đi sau”, Việt Nam tất yếu phải đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước.

+ Quá trình phát triển đường lối công nghiệp hoá:

Đại hội III của Đảng coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nhẹ.

Đại hội lần thứ V (3/1982) của Đảng có chủ trương mới, coi công nghiệp hoá là tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) điều chỉnh chủ trương chuyển trọng tâm công nghiệp hoá trong chặng đường đầu tiên của thòi kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện ba chương trình kinh tế lớn về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu,.

Đại hội lần thứ VII của Đảng (6/1991) chủ trương công nghiệp hoá là cùng với tập trung phát triển ba chương trình kinh tế lớn cần phát triển toàn diện nông thôn, xây dựng nông thôn mới; phát triển du lịch, dịch vụ; cơ sở hạ tầng.

Đại hội lần thứ VIII của Đàng (6/1996) khẳng định nước ta đã kết thúc chặng đường đầu tiên, chủ trương đưa đất nước chuyển sang thời kỳ mới đẩy manh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thời kỳ từ Đại hội IX đến Đại hội X (2001 - 2010), Đảng có chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương đổi mới đường lối công nghiệp hoá:

Khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta xác định là cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt.

Tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ; xây dựng đồng bộ, từng bước hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng.

Phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trường cao, tích luỹ lớn; tạo điều kiện phát triển các vùng khác, chú trọng các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam. Phát triển mạnh và phát huy vai trò chiến lược của kinh tế biển kết hợp với bảo vệ vùng biển.

+ Kết quả công nghiệp hoá đến năm 2010:

Tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010, theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD. Hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá.

Tuy nhiên, công nghiệp chế tạo, chế biến phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỷ trọng lớn. Cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chuyển dịch theo hướng tích cực còn chậm. Năng suất lao động xã hội thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Năng lực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện. Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí.

-  Đường lối công nghiệp hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bổ sung, phát triển năm 2011 (gọi tắt là Cương lĩnh năm 2011) chỉ rõ:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế.

Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.

Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn.

Xây dựng kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

-  Đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay:

+ Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững.

Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế.

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, áp dụng các hình thức thu hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực cho phát triển.

Phát triển đa dạng các ngành, nghề; khuyến khích, tạo thuận lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, có chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài.

Phát huy tiềm lực khoa học, công nghệ của đất nước, nâng cao năng suất lao động xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Tăng cường liên kết, khai thác, phát huy đúng tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế; nhất là vùng kinh tế trọng điểm.

+ Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho một nước công nghiệp, nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược với phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững.

Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn như sản xuất trang thiết bị, máy móc làm đất, thu hoạch, bảo quản, chế biến sản phẩm...

Phát triển mạnh công nghiệp xây dựng và công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp công nghệ tiên tiến...

Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, các khu công nghệ cao; khu kinh tế tổng hợp ven biển, khu kinh tế cửa khẩu. Phấn đấu giá trị gia tăng công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm tăng 7,8%/năm.

+ Phát triển nông lâm ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn:

Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bên vững. Phát triển nông nghiệp hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu.

Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi thế từng vùng. Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ với ứng dụng công nghệ cao.

Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam.

Tạo môi trường thuận lợi, khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động. Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.

Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ. Phấn đấu giá trị gia tăng nông nghiệp bình quân 5 năm 2,6 - 3%/năm. Tỷ trọng lao động nông nghiệp năm 2015 chiếm 40 - 41% lao động xã hội. Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8 - 2 lần so với năm 2010.

+ Phát triển các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao:

Ưu tiên phát triển và hiện đại hoá các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, thương mại, du lịch, vận tải, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ. Hình thành các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn tại Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ.

Phấn đấu khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng GDP và gấp ít nhất 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất sản phẩm vật chất; tốc độ tăng trưởng dịch vụ bình quân 5 năm đạt 8 - 8,5%/năm.

+ Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế:

Kiên quyết hoàn thành những công trình kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt theo hướng hiện đại và tương đối đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, khu công nghệ cao. Hoàn thiện cơ bản mạng lưới giao thông thiết yếu, đường ven biển, đường vành đai biên giới.

Hiện đại hoá một số sân bay, cảng biển quan trọng và một số tuyến đường bộ trọng yếu; hoàn thiện theo hướng hiện đại hệ thống giao thông đô thị.

Phát triển nhanh nguồn điện, hoàn chỉnh hệ thống truyền tải điện gắn với bảo đảm vận hành an toàn, phấn đấu giảm 1/3 mức điện tổn thất so với hiện nay. Phát triển hệ thống cung cấp đủ nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp và dân cư nông thôn.

Xây dựng các công trình xử lý chất thải rắn, nước, khí thải và các công trình bảo vệ môi trường. Sớm hoàn chỉnh hệ thống dự báo khí hậu, thời tiết và cơ sở nghiên cứu về biến đổi khí hậu toàn cầu, nâng cao năng lực dự báo, phòng, chống, hạn chế tác hại của thiên tai.

+ Phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn:

Phát triển đô thị phù hợp với phát triển kinh tế, theo quy hoạch dài hạn; xử lý đúng mối quan hệ giữa đô thị hoá và hiện đại hoá nông thôn. Đẩy mạnh việc đưa công nghiệp và dịch vụ về nông thôn; không để một khu vực lãnh thổ rộng lớn nào trống vắng đô thị.

-   Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

+ Sự cần thiết xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

V.I. Lênin đã đề ra và áp dụng chính sách Kinh tế mới trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cần cải tiến quản lý kinh tế, nước ta cần có nhiều thành phần kinh tế, cần coi trọng phân phối sản phẩm.

Trước đổi mới, Đảng ta chưa thừa nhận kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường, coi cơ chế quản lý kinh tế chủ yếu là kể hoạch hoá, tập trung, bao cấp. Cơ chế này đã phát huy tác dụng trong hoàn cảnh chiến tranh, nay không còn phù hợp nữa trong điều kiện hoà bình, Kết quả là nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng.

Trong thời kỳ mới, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói riêng đã trở thành xu thế của thế giới và là đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế nước ta.

+ Quá trình phát triển đường lối:

Đại hội VI của Đảng (12/1986) chủ trương xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan, với trình độ phát triển của nền kinh tế. Từ đó, Đảng chuyển mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế sang tự chủ sản xuất kinh doanh; đổi mới quản lý tinh tế nông nghiệp, thực hiện khoán sản phẩm đến hộ gia đình (khoán 10), phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.

Đại hội IX của Đảng (4/2001), chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Từ Đại hội lần thứ X (4/2006) đến nay, Đảng ta khẳng định nhận thức mới: coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại. Kinh tế thị trường, không đối lập mà tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; có thể và cần thiết phải sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để đảm bảo phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.

- Đường lối xây dựng và hoàn thiện thế chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Cương lĩnh năm 2011 khăng định:

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển.

Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đòan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, tuân theo quy luật của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

Nhà nước quản lý, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.

-   Chủ trương hoàn thiện thế chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay;

+ Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường:

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân. Mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Phát triển kinh tế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, độc lập, tự chủ của nền kinh tế. Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.

Phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập, phát triển đầy đù, đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, định hướng phát triển, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế.

+ Phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp:

Tiếp tục phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu..., quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu với xã hội.

Đổi mới, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu đối với đất đai, tài nguyên, vốn và các loại tài sản công khác, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí.

Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã. Thực hiện Luật Hợp tác xã. Tạo điều kiện phát triển các trang trại ở nông thôn.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế. Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước.

Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp với hình thức sở hữu hỗn hợp như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên...

+ Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường:

Phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh, hiện đại các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, chú trọng mở rộng và chiếm lĩnh thị trường trong nước, bảo vệ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và ngoại hối. Từng bước mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách đất đai, bảo đảm hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của người giao lại quyền sử dụng đất và của nhà đầu tư.

Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ gắn với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; có nhiều hình thức thông tin giới thiệu các hoạt động và sản phẩm khoa học, công nghệ; hoàn thiện các định chế về mua bán các sản phẩm khoa học, công nghệ.

Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động. Chế độ hợp đồng lao động được mở rộng, áp dụng phổ biến cho các đối tượng lao động. Đổi mới tổ chức và hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm của Nhà nước; khuyến khích tổ chức các hội chợ việc làm; phát triển các tổ chức dịch vụ tư vấn, giao dịch, giới thiệu việc làm; ngăn chặn các hành vi lừa đảo...

+ Nâng cao vai trò lãnh đạo cùa Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng; tăng cường, sử dụng hợp lý các tổ chức, cán bộ nghiên cứu để tham mưu xây dựng, lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội.

Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Phân định rõ hơn chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và chức năng của các tổ chức kinh doanh vốn và tài sản nhà nước.

Nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp và nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

b) Đường lối xây dựng hệ thống chính trị

-  Sự cần thiết và quan điểm đổi mới hệ thống chính trị:

+ Xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam:

Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng từ Hội nghị Trung ương 6, khoá VI (3/1989) thay cho khái niệm chuyên chính vô sản.

Hệ thống chính trị là phạm trù để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực, lãnh đạo và quản lý xã hội bao gồm Nhà nước, các đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, nhưng vai trò chủ đạo thuộc về Đảng cầm quyền, tác động nhằm phát triển xã hội.

Hệ thống chính trị ở nước ta gồm Đảng Cộng sản Việt Nam giữ quyền lãnh đạo xã hội, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Các thành tố đó có quan hệ gắn bó, tác động lẫn nhau, trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, Nhà nước là tổ chức thực thi quyền lực của nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội là tổ chức phát huy quyền làm chủ của dân.

Trước đổi mới, Đảng đã chú trọng nêu cao tinh thần làm chủ của nhân dân, khác phục phần nào cách hiểu cực đoan, một chiều, quá tải về chuyên chính vô sản. Tuy nhiên, hạn chế chủ yếu là buông lòng chuyên chính vô sản trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội, văn hoá và, chống lại âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù.

Đổi mới hệ thống chính trị là đòi hỏi khách quan và cấp thiết để đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng và phát triển.

+ Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị:

Kết hợp chặt chẽ từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị.

Đổi mới làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động, hiệu quả hơn, phù hợp với đổi mới toàn diện và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế.

Đổi mới hệ thống chính trị toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

Đổi mới hệ thống chính trị tập trung vào 3 nội dung chủ yếu là đổi mới và chỉnh đốn Đảng; phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quần chúng.

-  Xây dựng và chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam:

+ Sự cần thiết đổi mới, chỉnh đốn Đảng:

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản đối với cách mạng và sự cần thiết phải xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, Đảng cũng không tránh khỏi có sai lầm, khuyết điểm.

Sự tan rã Liên Xô và một số Đảng Cộng sản ở Đông Âu do nhiều nguyên nhân nhưng cơ bản nhất do không coi trọng đúng mức công tác xây dựng Đảng.

Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng ta đã có nhiều chủ trương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đã đạt nhiều thành tựu trong xây dựng Đảng.

Hiện nay, bên cạnh mặt tích cực, Đảng đang đứng trước những hạn chế, khuyết điểm. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ chưa được ngăn chặn... Đây là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền.

 

Các thế lực thù địch luôn âm mưu chống Đảng, thực hiện "diễn biến hòa bình", gây rối loạn lý luận, tư tưởng, tạo nghi ngờ, phân tâm, mất niềm mở rộng “ tự chuyển biến”, hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những nhiệm vụ rất nặng nề. Để làm tròn nhiệm vụ, Đảng cẩn trọng hơn công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là niệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

+ Đường lối xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Cương lĩnh năm 2011 khẳng định:

Đảng phải xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo.

Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền; lãnh đạo Nhà nước là xã hội; đề ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn, có công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát đúng đắn; có hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Coi trọng và làm tốt công tác cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm của người đứng đầu. Thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân chủ và kỷ luật trong Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện chia rẽ, bè phái.

+ Đường lối xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay:

Một là, tăng cường xây dựng Đảng về chính trị:

Kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên. Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc. Gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội.

Hai là, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận:

Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ba là, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân: Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân. Xử lý nghiêm mọi cán bộ, đàng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống.

Bốn là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng:

Tập trung chỉ đạo, củng cố những tổ chức đảng yếu kém. Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chất lượng tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng.

Năm là, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên:

Thực hiện trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, tăng cường bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ theo chức danh cán bộ cơ sở. Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên.

Sáu là, đổi mới công tác cán bộ:

Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, cán bộ là nữ, cán bộ thuộc dân tộc thiểu số. Coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bảy là, đôi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát:

Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Tám là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng:

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

- Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:

+ Sự cần thiết xây dựng và hoàn thiện nhà nước trong thời kỳ mới:

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của Nhà nước trong mọi cuộc cách mạng và nội dung xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nhà nước đoàn kết toàn dân tộc. Nhà nước ta đã góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của dân tộc.

Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng (1/1994) đến nay, Đảng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và đã đạt được những thành tựu nhất định.

Tuy nhiên, cho đến nay, Nhà nước ta vẫn còn những yếu kém; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, mất dân chủ còn nghiêm trọng; hiệu lực quản lý, điều hành chưa nghiêm.

Xu thế toàn cầu hoá, cạnh tranh kinh tế gay gắt, sự phức tạp của tình hình thế giới; sự chống phá Nhà nước ta của các thế lực thù địch rất tinh vi và quyết liệt. Để làm tròn nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tất yếu phải xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.

+ Đường lối hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

 - Cương lĩnh năm 2011 khẳng định:

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng lãnh đạo.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương.

+ Đường lối hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay:

Một là, nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chù nghĩa:

Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương.

Hai là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước:

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả; tổ chức nhanh gọn và hợp lý.

Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đổi mới hệ thống tổ chức toà án, cải cách hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án.

Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương. Nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới:

Bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ. Có cơ chế loại bỏ, bãi miễn nhũng người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật...

Bốn là, tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa, kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí:

Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí. Chú trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí. Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức.

Coi trọng và nâng cao vai trò của các cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; cổ vũ, động viên phong trào tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng.

-  Phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội:

+ Sự cần thiết phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội trong thời kỳ mới:

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò to lớn của phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Trong quá trình cách mạng, Đảng ta đã từng bước mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội trong đại đoàn kết dân tộc, góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã có nhiều tiến bộ phát huy dân chủ và xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nhất là thực hiện dân chủ ở cơ sở..

Tuy nhiên, dân chủ trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở nhiều nơi còn mang tính hành chính, hình thức; quyền dân chủ của dân còn bị vi phạm...

Các thế lực thù địch không ngừng chống phá, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, thổi phồng những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân...

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị xã hội.

+ Đường lối phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị — xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Mặt trận Tổ quôc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị-xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.

Các đoàn thể nhân dân theo tính chất, tôn chi và mục đích đã xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, xã hội.

Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phàn biện xã hội.

+ Đường lối phát huy dân chủ, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội hiện nay:

Một là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa:

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân.

Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức.

Hai là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc:

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung... để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

+ Phát huy vai trò của giai cấp công nhân:

Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghê nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động; sừa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cải thiện điều kiện nhà ở, làm việc)..

+ Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân:

Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện bền vững xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp.

«TGOCf*HllW

 

+ Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao:

Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng cống hiến của trí thức; có chính sách đặc biệt với nhân tài của đất nước. Gắn bó giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước.

+ Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao. Phát huy vai trò tích cực của doanh nhân trong phát triển sản xuất kinh doanh; tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, hàng hoá, dịch vụ cho đất nước và xuất khẩu; đóng góp cho ngân sách nhà nước; nâng cao chất lượng sản phẩm; tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hoá Việt Nam.

+ Làm tốt công tác giáo dục cho thế hệ trẻ về chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện cho thế hệ trẻ học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ. Khuyến khích thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão lớn, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Hình thành lớp thanh niên ưu tú trên mọi lĩnh vực, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách.

+ Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ:

Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỉ lệ phụ nữ tham gia vào cấp uỷ và bộ máy quản lý nhà nước kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

+ Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh. Động viên cựu chiến binh giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, tích cực tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

 + Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuôi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc. Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của người cao tuổi trong xã hội và gia đình. Tiếp tục xây dựng gia đình “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”; giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa.

+ Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

+ Tiếp tục hoàn thiện chinh sách, pháp luật vê tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách để hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước.

+ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thế nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sờ chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dâii thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

c)     Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá và giải quyết các vấn đề xã hội

-       Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá:

+ Sự cần thiết xây dựng, phát triển văn hoá:

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò to lớn của văn hoá. Văn hoá là mục tiêu, là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa...

Văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước cúa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử dân tộc.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta có nhiều chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá".

Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kỳ đổi mới, những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa tương xứng và chưa vững chắc. Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến nghiêm trọng hơn.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch coi lĩnh vực văn hoá, tư tưởng là trọng điểm của chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng nước ta.

Để làm tròn nhiệm vụ là nền tảng tinh thần xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tất yếu phải đổi mới, xây dựng nền văn hoá mới.

+ Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Cương lĩnh năm 2011 khẳng định:

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bàn sấc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, trở thành sức mạnh nội sinh của sự phát triển.

Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và kiên trì, thận trọng, coi đây là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.

Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích con người với trình độ tri thức, đạc đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.

Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những lỗi thời, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hoá.

Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin: chân thực, đa dạng, kịp thời.

+ Đường lối xây dựng, phát triển văn hoá hiện nay:

Một là, củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh phong phú, đa dạng:

Đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; xây dựng nếp sống văn hoá trong các gia đình, khu dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hoá; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma tuy cờ bạc.

Sớm có chiến lược quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hoá, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá ở các cấp, đồng thời có kế hoạch cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng mới một số công trình văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao hiện đại ở các trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của đ

  • Khái quát tiến trình đổi mới (từ 1986 đến nay)

    Đại hội nhận định, 5 năm qua cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi nhưng có nhiều khó khăn phức tạp. Nhân dân ta khắc phục khó khăn đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng tình hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt.

Quảng cáo
close