Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm ở trung tâm Trung Trung Bộ của Việt Nam, phía Tây Nam sông Gianh; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa; phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Vườn Quốc gia có chung ranh giới với Khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Hình ảnh: Động Phong Nha (Phong Nha- Kẻ Bàng)
Dãy núi đá vôi Kẻ Bàng là hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới. Đó là kết quả tiến hóa tự nhiên cách đây gần 400 triệu năm. Quá trình tạo sơn phức tạp đã tạo cho Phong Nha – Kẻ Bàng địa thế hiểm trở, ẩn chứa một quần thể hang động kì vĩ, những tượng thạch nhũ đẹp nhất và những dòng sông tối ngầm dài nhất thế giới. […]
Hệ thống hang động Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc loại cổ nhất Đông Nam Á, được hình thành do các đứt gãy kiến tạo trong kỷ Đệ Tam (35 triệu năm), đồng thời với pha tách giãn hình thành Biển Đông. Hệ thống hang động ở đây được phát triển trên một khối đá vôi lớn nhất Đông Nam Á, từ kỷ Devon muộn (377 triệu năm) đến kỷ Permi (250 triệu năm). Bao quanh khối đá vôi là các tầng địa hình phi carbonat, là điều kiện thu nước tốt cho khối đá vôi hình thành hang động, đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trong khu vực. Có 2 hệ thống hang chính: hang Phong Nha, với tổng chiều dài 5.076m; hang Vòm, với tổng chiều dài 36.063m, hầu hết còn mang tính nguyên sơ.
[..] Phong Nha – Kẻ Bàng chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, sông suối, hang động và các hệ sinh thái thứ sinh.
Phong Nha – Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên Trái đất, đó là rừng nhiệt đới thường xanh, chủ yếu là cây lá kim, dưới tán là các loài “lan hài vệ nữ”, phân bố trên núi đá vôi, ở độ cao hơn 700m – 1000m và có 15 kiểu rừng, đặc biệt là kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi, có tầm quan trọng quốc tế. Những giá trị nổi bật trong quá trình phát triển về địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và giúp Phong Nha – Kẻ Bàng trở thành một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới. Phong Nha và Kẻ Bàng được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế đánh giá là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam.
Đến nay, đã xác định sự có mặt của 2.651 loài thực vật bậc cao có mạch, 735 loài động vật có xương sống, 369 loài côn trùng trong khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng. Trong đó, 116 loài thực vật và 129 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Có tới 28 loài động, thực vật có giá trị kinh tế và khoa học cao đang bị đe dọa nguy cấp ở mức toàn cầu, như voọc Hà Tĩnh, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, hổ, sao la, sóc bay đen trắng, chó sói, gà lôi, rùa…
Sự đa dạng sinh cảnh ở đây là điều kiện lý tưởng cho 9/21 loài linh trưởng (chiếm 43% của Việt Nam) sinh sống. Có 3 loài linh trưởng đặc hữu của dãy Trường Sơn là voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu, vượn bạc má. Khu hệ dơi với 46 loài (chiếm 43% tổng số loài của Việt Nam) ở đây, được xem là đa dạng nhất cả nước, đồng thời là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi.
{..} Tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. {..}
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là một di tích và danh thắng hội tụ được nhiều giá trị nổi bật. Chính những giá trị này đã mang lại cho Phong Nha – Kẻ Bàng một sự hấp dẫn đặc biệt riêng. {..}
(Theo Hoàng Phúc, Hồ sơ xếp hạng di tích, tư liệu Cục Di sản văn hóa)
Xác định mục đích của văn bản trên.
Đọc toàn văn bản, xác định nội dung chính (viết về cái gì?) và cách trình bày (giới thiệu, kể chuyện hay nghị luận) để suy ra mục đích.
Mục đích của văn bản là giới thiệu và cung cấp thông tin chi tiết về Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, từ giá trị địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học đến ý nghĩa bảo tồn và tầm quan trọng quốc tế của khu vực.
Giải thích:
Văn bản cung cấp hàng loạt thông tin về vị trí, địa chất, sinh học… => mang tính thuyết minh.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin

Chỉ ra từ được viết tắt cho một tổ chức quốc tế quan trọng trong văn bản, và cho biết người viết đã dùng tên viết tắt của tổ chức quốc tế nào?
Tìm các chữ viết hoa, viết tắt trong văn bản => xác định đó là tên tổ chức => nêu đầy đủ tên gọi.
Từ viết tắt: UNESCO.
UNESCO là tên viết tắt của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc, tổ chức đã công nhận Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là Di sản thiên nhiên thế giới vào tháng 7 năm 2003.
Giải thích:
“UNESCO” là tổ chức quốc tế quen thuộc, thường xuất hiện trong các văn bản về di sản.
- Trong giao dịch hiện nay, tên của các tổ chức quốc tế thường xuyên được nhắc tới. Để tiết kiệm thời gian và kinh phí in ấn tài liệu, người ta thường sử dụng tên viết tắt của những tổ chức này.
- Tên viết tắt được tạo ra bằng cách ghép các chữ cái đầu của các từ trong tên đầy đủ. Ví dụ: WTO: World Trande Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới), IOC: International Olympic Committee (Uỷ ban Olympic Quốc tế).
Link tham khảo: Tên viết tắt các tổ chức quốc tế
Nhận xét về vai trò của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.
Xác định phương tiện phi ngôn ngữ (hình ảnh, sơ đồ…) => nêu vai trò chung: minh họa, tăng trực quan, hỗ trợ nội dung.
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh minh họa động Phong Nha.
- Vai trò:
+ Giúp minh họa cụ thể và sinh động hơn cho nội dung văn bản, tạo sự hấp dẫn và trực quan đối với người đọc.
+ Tăng cường sự liên kết giữa thông tin được cung cấp và giá trị thực tế của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
+ Hỗ trợ người đọc hình dung rõ hơn về vẻ đẹp và tầm quan trọng của khu vực này.
Giải thích:
Hình ảnh động Phong Nha giúp người đọc dễ hình dung vẻ đẹp thực tế, làm văn bản sinh động hơn
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Phân tích tác dụng của cách trình bày thông tin văn bản trong phần văn bản sau:
“Phong Nha – Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên trái đất … là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi”?
Phân tích cách trình bày thông tin (liệt kê, số liệu, dẫn chứng…) => nêu tác dụng: nhấn mạnh, làm rõ, tăng thuyết phục.
Tác dụng của cách trình bày thông tin:
- Nhấn mạnh tính độc đáo và đa dạng sinh học của Phong Nha – Kẻ Bàng, làm nổi bật sự khác biệt so với các khu vực khác.
- Cách liệt kê các kiểu rừng, hệ sinh thái, các loài động thực vật đặc biệt tạo ấn tượng mạnh, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận thông tin quan trọng.
- Tạo cảm giác phong phú, quý giá về thiên nhiên, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn di sản thiên nhiên.
Giải thích:
Đoạn văn sử dụng nhiều chi tiết, số liệu và liệt kê hệ sinh thái => làm nổi bật sự đa dạng và giá trị của khu vực.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Qua văn bản, em rút ra cho mình những thông điệp gì?
Tổng hợp nội dung toàn văn bản => rút ra 2–3 thông điệp chính (thường liên quan đến nhận thức + hành động).
Qua văn bản, em rút ra những thông điệp sau:
- Thiên nhiên là tài sản quý giá mà mỗi người cần có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ.
- Sự đa dạng sinh học là nền tảng cho sự cân bằng và phát triển bền vững của Trái đất.
- Việc công nhận và bảo vệ các di sản thiên nhiên không chỉ mang giá trị quốc gia mà còn đóng góp vào bảo tồn di sản thế giới.
- Hành động bảo tồn thiên nhiên phải bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như trân trọng môi trường sống xung quanh.
Giải thích:
Văn bản ca ngợi giá trị thiên nhiên => hướng đến ý thức bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Bài thơ về tiểu đội xe không kính có bố cục gồm mấy phần?
Gồm 3 phần
Gồm 4 phần
Gồm 5 phần
Gồm 6 phần
Bài 2 :
“Em bé đánh que diêm thứ tư, em bé "nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em". Khi em đánh tiếp những que diêm còn lại trong bao diêm, em thấy bà em to lớn và đẹp lão, bà em cầm lấy tay em, hai bà cháu vụt bay lên chầu Thượng đế"
(Cô bé bán diêm)
Ý nghĩa của mộng tưởng này là gì?
Khao khát tình thương của bà trao cho.
Muốn được trường sinh bất tử.
Muốn thoát khỏi cảnh ngộ đen tối "chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ nào".
Được gặp bà sống yên vui trong lòng bà.
Bài 3 :
Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm bài học gì?
Sức sống tiềm tàng của những con người vùng biển
Cần nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng
Nhẫn nại, cam chịu như người đàn bà làng chài để giữ hạnh phúc gia đình
Bài học về đấu tranh chống lại nạn bạo hành gia đình
Bài 4 :
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu hỏi:
Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao
(Trích Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi
(Trích Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)
Bài 5 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Ước mơ giống như bánh lái của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và không nhìn thấy được, nhưng nó điều khiển hướng đi của con người. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái, người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đám rong biển”.
(Theo Bùi Hữu Giao, Hành trang vào đời, trang 99, NXB Thanh Niên)
Bài 6 :
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn cỏ, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già
(Bác ơi, Tố Hữu)
Bài 7 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
BỐN NGỌN NẾN
Trong một căn phòng lặng thinh có bốn ngọn nến đang cháy. Ngọn nến thứ nhất nói:
- Tôi là biểu tượng của hòa bình, thế giới này rất cần tôi.
Ngọn nến thứ hai nói:
- Tôi là biểu tượng của lòng trung thành. Hơn tất cả, mọi người đều cần đến tôi.
Ngọn nến thứ ba lên tiếng:
- Tôi là biểu tượng của tình yêu, hãy tưởng tượng xem thế giới sẽ ra sao nếu không có tình yêu, thế giới thực sự rất cần đến tôi.
Đột nhiên, cánh cửa căn phòng mở tung, một làn gió lùa vào thổi tắt cả ba ngọn nến. Cậu bé chạy vào ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao ba ngọn nến lại tắt?
Cậu bé òa khóc, lúc này ngọn nến thứ tư mới lên tiếng:
- Đừng khóc cậu bé, khi nào tôi còn cháy sáng thì cậu vẫn còn có thể thắp sáng cả ba ngọn nến kia lại. Bởi vì tôi chính là hiện thân của hi vọng.
Lúc này, cậu bé không khóc nữa và cầm ngọn nến thứ tư lần lượt thắp sáng cả ba ngọn nến còn lại.
(Những câu chuyện khơi nguồn trí tuệ - Trương Thiết Thành)
Bài 8 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU
(1) Ngày 28-2-2021, anh Nguyễn Ngọc Mạnh, chàng trai 31 tuổi ở thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc (huyện Đông Anh, TP Hà Nội) - vốn là người lái xe tải chở hàng hoá bình thường - đã có một hành động phi thường gây chấn động cả giới truyền thông. (2) Nguyễn Ngọc Mạnh đã dũng cảm, mạnh mẽ và quan trọng hơn cả là đúng lúc, kịp thời làm nên phút giây huyền diệu cứu sống bé gái 3 tuổi rơi từ tầng 12A, tòa chung cư 60B Nguyễn Huy Tưởng, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. ...
(3) “Tôi vừa cố trèo, vừa đưa tay ra cố gắng đỡ cháu. Điều tôi thấy hối hận nhất là không thể đỡ cháu được bằng cả hai tay để giảm thương tích cho cháu", anh Nguyễn Ngọc Mạnh hồi tưởng. ...
(4) Muốn biết giá trị thật sự của 1/100 giây, hãy hỏi vận động viên điền kinh vừa đoạt huy chương bạc tại Olympic. (5) Nguyễn Ngọc Mạnh đã cho chúng ta biết giá trị thật sự của 1/100 giây, thậm chí ít hơn nữa khi lao mình lên mái tôn, cố gắng cao nhất giơ đôi tay để cứu em bé rơi xuống …
(6) Thời gian như dòng sông cứ mải miết trôi. (7) Nhưng những phút giây huyền diệu thì sẽ luôn ngưng đọng mãi, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn và khiến chúng ta không thể nào quên.
(Trích: Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” lần thứ 12, Báo Quân Đội Nhâ Dân online- ngày 2/3/2021)
Bài 9 :
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Cho gươm mời đến Thúc lang
Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run
Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là
Vợ chàng quỉ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén chưa lâu
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa"
(SGK Ngữ văn 9, tập một)
Bài 10 :
Kết cấu của bài thơ là gì?
Bài 11 :
Kết cấu của bài thơ được thể hiện ở những phương diện tổ chức nào trong tác phẩm?
Bài 12 :
Ngôn ngữ thơ có đặc điểm gì?
Bài 13 :
Vì sao bài thơ dễ dàng tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc và khắc sâu trong tâm trí họ?
Bài 14 :
Điền vào chỗ trống trong câu sau:
Hình thức nghệ thuật của văn bản là cách …… mọi yếu tố (bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biên pháp tu từ, vần, nhịp…) nhằm tạo nên…… của tác phẩm
Bài 15 :
Trong khổ thơ sau, tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh nào? Tác dụng của nó là gì?
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
(Tế Hanh, Quê hương)
Bài 16 :
Xác định một vài biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của chúng:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...
(Bằng Việt, Bếp lửa)
Bài 17 :
Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ Quê hương (Tế Hanh)
Bài 18 :
Vẽ sơ đồ bố cục của bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt)
Bài 19 :
Chỉ ra một vài nét đặc sắc của kết cấu bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt).
Bài 20 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
NÓI VỚI CON
Y Phương
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Bài 21 :
So sánh sự khác nhau của cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong văn bản nghị luận dựa vào bảng sau (làm vào vở):
|
Cách trình bày vấn đề khách quan |
Cách trình bày vấn đề chủ quan |
|
|
Đặc điểm |
… |
… |
|
Tác dụng |
… |
… |
|
Ví dụ |
… |
… |
Bài 22 :
Phân tích sự kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn văn sau:
Chủ đề cách ứng xử với thiên nhiên được tô đậm hơn qua những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Hoài. Ban đầu, Hoài chưa hiểu quyết định trả tự do cho chim bống chanh đỏ, nên đã trách anh Hiến. Lời nói của anh đã thức tỉnh Hoài, đồng thời thức tỉnh chúng ta - những người đọc: “Nếu có đứa nào phá rối nhà mày thì mày tính sao... Vậy thì mày có muốn đóng vai thằng ăn cướp đối với gia đình con bồng chanh không?”. Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chim bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người. Vì thế, những điều ta không muốn xảy đến với mình, ta đừng gây ra cho tự nhiên và các loài vật. Từ đó, Hoài “thương đôi bồng chanh bây giờ đã tha con đến một cánh đồng nào, ở một đầm nước xa lạ, chúng lại cùng nhau xây tổ để tránh mưa tránh nắng...”. Tình thương ấy xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn. Vì hành động nhất thời của hai anh em, chim bồng chanh đã phải bỏ tổ để đi nơi khác. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩn trọng khi ứng xử với thiên nhiên, vì bất kì hành động vô tâm nào cũng có thể gây ra những tổn thương đối với muôn loài.
(Trích Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn “Bồng chanh đỏ”, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)
Bài 23 :
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ
Nguyễn Đình Thi
Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.
Nguyễn Du viết:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thoả mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na5 (Anna Karenina) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn còn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vất những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.
Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. [...] Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí, triết học, mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phần khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đương hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn.
[...] Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.
Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hoá thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ vẫn nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống, và cuộc sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao". [...] Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.
Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một mình trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Những nghệ sĩ không đến mở cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng lại trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thẩm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy. [...]
(Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)
a. Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn “Lời gửi của nghệ thuật…cách sống của tâm hồn.”
b. Luận đề của văn bản là gì? Xác định bố cục và luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý sau:
|
Bố cục |
Luận điểm |
|
Phần 1 (Từ đầu đến “cách sống của tâm hồn” |
Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ. |
|
Phần 2 … |
... |
|
Phần 3 … |
.... |
c. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Những lí lẽ, bằng chứng trong đoạn cuối văn bản đã làm sáng tỏ luận đề như thế nào?
d. Em ấn tượng nhất với đoạn văn nào trong bài viết? Hãy chia sẻ ấn tượng ấy với các bạn.
đ. Có bạn trẻ cho rằng: Khi đọc tác phẩm truyện, chỉ cần tập trung vào cốt truyện cho thỏa trí tò mò là đủ. Em có đồng ý với cách đọc này không? Từ nội dung văn bản và trải nghiệm đọc của bản thân, hãy trao đổi với bạn về cách đọc mà em cho là phù hợp nhất.
Bài 24 :
Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử là gì?
Bài 25 :
Vẽ sơ đồ xác định cấu trúc của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử.
Bài 26 :
Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn trình bày thông tin theo (những) cách nào? Vì sao?
Bài 27 :
Bài phỏng vấn là gì? Có mấy cách phân loại bài phỏng vấn?
Bài 28 :
Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn.

Bài 29 :
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU
Theo Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh
Đất Mũi Cà Mau – nơi cực Nam của đất nước được khai phá vào cuối thế kỉ XVIL đầu thế kỉ XVIII, gắn liền với sự quản tụ của ba dân tộc: Kinh, Hoa, Kh mẻ. Do vậy, nơi đây có sự giao thoa những nét sinh hoạt văn hóa đa sắc tộc được thể hiện qua nhiều phong tục, tập quân phong phú và đặc sắc.
Xưa có người kể rằng, những cư dân nơi Mũi Cà Mau là những người hùng ở phía Bắc vì không chịu được sự bóc lột của đế quốc phong kiến đã bỏ làng, bỏ đất mà đi về phương Nam. Họ cứ đi, đi mà đặc biệt Cà Mau, mảnh đất cuối cùng của đất nước vốn được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi và dừng lại để sinh cơ, lập nghiệp. Càng gắn bó với đất, với rừng, họ càng thấu hiểu câu nói: "Đất lành chim đậu", "Rừng là vàng, biển là bạc"....
Lịch sử hình thành, vị trị toạ lạc, diện tích
Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002, nằm trên địa bàn huyện Năm Căn và Ngọc Hiến, tỉnh Cà Mau, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 400km, nơi có cột mốc cuối cùng của Việt Nam trên đất liền, với tổng diện tích: 41862 ha, trong đó diện tích trên đất liền là 15 262 ha, diện tích ven biển là 26 600 ha – một vùng đất ngập mặn với quần thể thực vật chiếm ưu thế là cây đước, cây mắm³. Đây là một hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hoá và lịch sử.
Đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và vùng châu Á - Thái Bình Dương, du khách có thể thoả sức khám phá, tìm hiểu những nét đặc trưng độc đáo về địa lí tự nhiên và địa mạo tạo nên vùng sinh thái của sông, ven biển có một không hai ở Việt Nam.
Sẽ thật là thú vị khi bạn được lênh đênh bằng xuồng máy trên các sông, rạch, với những buổi đi xuyên rừng đước, thoả thích chụp ảnh các loài chim, thú, hít thở bầu không khí trong lành và lắng nghe những âm thanh vọng về từ cây lá, chim muông,... Du khách cũng sẽ rất ngạc nhiên và thích thú khi được biết Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm" với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện. Nơi đây hiện có hơn 100 loài động vật quý hiếm đang sinh sống.
Quần thể động thực vật phong phú
Do điều kiện thiên nhiên đặc trưng nên hệ động vật của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau rất phong phú, đa dạng với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ, trong đó có hai loài trong Sách đỏ thế giới IUCN là khỉ đuôi dài và con cà khu². Một số loài phổ biến thường gặp là rái cá, sóc, chồn, khỉ,... Hằng năm, vào tháng Tám, những đàn chim di cư về rừng đước làm tổ, sóm chiều theo con nước kiếm ăn, bầu trời rừng đước lại rộn rã như ngày hội. Lớp chim ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có hơn 74 loài thuộc 23 họ, trong đó có 5 loài có trong Sách đỏ của IUCN gồm cò Trung Quốc, bỏ nông chân xám, giang sen, rẽ mỏ cong hông nâu và quấn trắng.
Theo thống kê của các nhà khoa học ở Đất Mũi, mỗi năm đất nơi đây lấn biển khoảng 100 mét, đi theo quá trình bồi tụ là sự sống của cây có và các loài sinh vật. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nơi đây bạt ngàn rừng ngập mặn, tiếng lá cây và tiếng gió biển hoà quyện vào nhau trong một không gian thanh bình, yên ả.
Phải đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau mới thấy hết vẻ đẹp của những dãy rừng ngập mặn trù phú dọc theo bờ biển và bờ sông như những bức tường phòng hộ, chống gió, chống xói lở. Những loài cây ngập mặn tiên phong có tác dụng thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa, tích tụ mới ở biển. Điều kiện tự nhiên nơi đây cũng đã ngẫu nhiên tạo ra một môi trường sinh trưởng, phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể.
Mũi đất hướng ra biển
Nhìn trên bản đồ Việt Nam, mùi đất chỉ là một doi đất hơi nhọn hướng ra biển về phía tây, nhưng thực tế tại đây lại là một khoảng không gian rộng lớn, nơi đất mới bồi là một bãi sình lầy bằng phẳng, sâu trong đất liên là rừng đước xanh ngút ngàn. Phải phóng tầm mắt thật xa mới thấy thấp thoáng xóm Đất Mũi nằm lẫn với rừng cây. Còn khi nhìn về phía biển trong cái nắng chói chang có thể thấy mờ mờ hình dáng Hòn Khoai ngoài khơi xa. Không những thế, từ vọng hải đài, phóng tầm mắt ra khơi, quay mặt hứng luồng gió biển lồng lộng, hít thật sâu vào hai lá phối, du khách tưởng chừng như ngửi được mùi cá, mùi muối đặc trưng của vùng nước mặn mà từ đó cảm thấy Tổ quốc mình thật gần gũi, mến yêu.
Đất Mũi được nhắc đến như một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú. Đến với Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biến, tham quan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến; chụp hình dưới chân biểu tượng Mũi Cà Mau và được chiêm ngưỡng nhiều điều kì thú khi hoàng hôn buông xuống, ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la. Bên trái là biển Đông, bên phải là biển Tây, đứng ở Mũi Cà Mau, du khách như đang đứng trên mũi tàu khổng lồ của Tổ quốc rẽ sóng ra khơi.
(Theo Hỏi – đáp về những cánh rừng và vườn quốc gia Việt Nam, Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh, NXB Quân đội nhân dân, 2009, tr. 178-181)
Bài 30 :
Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
CHUYỆN TRÒ VỀ THƠ VỚI HUY CẬN
Theo Phan Hoàng
Huy Cận là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn sót lại của phong trào Thơ mới. Vừa đặt chân đến Hà Nội, chúng tôi (sáu người trong đoàn nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh) tham dự hội nghị công tác Nhà văn trẻ toàn quốc lần thứ IV, rời nhà khách Chính phủ để đến thấp hương cho nhà thơ Xuân Diệu và thăm nhà thơ Huy Cận. Buồn thay, nhà thơ Huy Cận vắng nhà. Nhưng rồi chúng tôi cũng đã được gặp ông trong hội nghị. Và ông đã dành riêng cho chúng tôi một cuộc chuyện trò thủ vị về thơ.
[...]
– Cái tên Huy Cận không xa lạ gì đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại. Nhưng để đi đến đỉnh cao vinh quang ấy, chàng Huy Cận bắt đầu từ đâu, thưa ông?
- Hồi nhỏ tôi rất thích thơ. Quê hương tôi lại là vùng có truyền thống văn nghệ. Tôi sinh năm 1919, tại làng An Phú thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Bố tôi là một ông đổ Nho đậu Tam trường, có biết tiếng Tây. Ông đi làm hương sư, sau chán, trở về quê cày ruộng và mở lớp dạy chữ Hán. Bố tôi rất mê văn chương, thuộc Truyện Kiểu kinh khủng và hay bình Kiều. Mẹ tôi cũng mê Kiều và nể phục tài của chồng.
Còn cái làng tôi thì yêu văn nghệ vô cùng. Vào những đêm trăng thanh gió mát, nhất là vào mùa hè, thường là cả xóm kéo nhau ra bãi cát, gọi là bài Giang, để hát dặm hát ví với nhau. Nam nữ thanh niên ứng khẩu những câu ví dặm rất hay, rất tỉnh. Không khí thơ mộng chưa thấy ở bất cứ đâu. Và nhiều cuộc tình duyên cũng đã nảy nở, hình thành trong hoàn cảnh ấy.
Nhà nghèo, nên tôi phải sớm vào Huế nhờ ông cậu nuôi ăn học. Lúc bấy giờ mới bảy tuổi, tôi chưa biết Kiều là gì. Nhưng đêm đêm, có ông quản gia nhà bà con với tôi nằm đọc Kiều sang sảng: “Đề huề lưng túi gió trăng/ Sau lưng theo một vài thằng con con..”. Tôi không biết “đề huế” là gì, “lưng túi” là gì, nhưng vẫn thấy rất hay.
Tất cả những cái đó làm cho mình đâm ra thích thơ, mặc dù tôi là thẳng học sinh giỏi cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, nhưng rất mê thơ.
- Ông bắt đầu làm thơ từ khi nào?
- Lúc học ở Huế, năm lớp nhất thành chung, mười ba tuổi, tôi làm những bài thơ đầu tiên. Năm đệ tam, mười sáu tuổi, tôi mới có thơ đăng báo ở Huế như Tràng An, Sông Hương,... Đến năm mười tám tuổi, thơ tôi đăng liên tiếp ở bào Ngày nay. Và tôi bắt đầu nổi tiếng từ đó.
- Là nhà thơ rất thành công về thể thơ lục bát, ông nghĩ gì về thể thơ này?
- Lục bát là thể thơ rất Việt Nam, như là hơi thở của giống nòi. Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học thì thơ Việt Nam có ba giai đoạn lục bát: lục bát của ca dao, lục bát của Nguyễn Du và lục bát của Huy Cận. Còn lục bát khác cũng có nhiều cái hay, nhưng nó không hẳn thành ra một giai đoạn lục bát.
Tại sao tôi viết được lục bát như vậy? Trước tiên là mê Kiều. Nhưng mê Kiều thì cũng có nhiều người mê kia mà? Điều quan trọng là lục bát thấm vào tôi từ nhỏ với những bài ví dặm câu năm chữ xen những câu lục bát. Như bài Mẹ goi con côi cực hay:
Cục lòng mẹ quá con ôi
Đi thời thương tiếc phải ngồi nuôi con
Ru duyên hơi, phận hơi
Ru duyên hơi, phận hơi
Ru duyên hơi, phận hơi
Ru con ăn con nhỏi
Ru non nước tình chung
Ru xuân hạ thu đông
Ru bốn mùa ở tình cảnh
Bóng trăng lên xấp xánh...
- Theo ông, lục bát Huy Cận khác gì lục bát Nguyễn Bính?
- Có loại lục bát vè. Có loại lục bát thơ. Lục bát của Nguyễn Bính và lục bát Huy Cận đều là lục bát thơ. Thơ lục bát của tôi cô đọng, đông đặc, nhưng không bí hiểm. So với Nguyễn Bính thì lục bát Huy Cận có phần cô đúc, sâu lắng hơn. Lục bát Nguyễn Bính gắn với ca dao, có chất thơ.
- Ông nghĩ gì về lục bát của các nhà thơ hôm nay?
– Có nhiều bài lục bát tài tình đấy. Như Cây tre của Nguyễn Duy chẳng hạn. Kĩ thuật lục bát bây giờ của nhiều anh cũng tài cũng nhuyễn. Thế nhưng, để có cái hồn riêng của từng người thì thật khó.
- Nhà thơ bây giờ như “là rụng mùa thu”, nhưng ít người có cái "riêng" chứ chưa nói là hay. Vậy theo ông, một nhà thơ trước hết cần tố chất gì?
– Tài năng. Anh bỏ hàng năm để làm một bài thơ, nhưng không có tài thì cũng hỏng. Nhưng tài năng thể hiện ở chỗ nào? Ở cảm xúc tổng thể, cảm xúc của trái tim, cảm xúc của cơ thể, cảm xúc của cả trí tuệ nữa, tức sự rung động về trí tuệ, vì nếu không thì anh làm xã luận, chứ không làm thơ được.
- Xin cảm ơn ông!
(In trong Phỏng vấn người Hà Nội, Phan Hoàng, NXB Trẻ, 2000)
Danh sách bình luận