Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG
[…] Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoạn, cũng thường vung bút đề thơ. Đây là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bài thơ đề nơi nào phải đúng với tình cảm, sự tích nơi đó, xem như cảm nghĩ về nơi được đề. […]
Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cách nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo
Những ai được lập đền dù là quân giặc, đều được coi là thần, để người thường đến thắp hướng cúng bái, cầu vong. Nhưng Hồ Xuân Hương thì chỉ “ghé mắt trông ngang”. “Ghé mắt” theo Từ điển Tiếng Việt, là “nghiêng đầu và đưa mắt nhìn”, chỉ thuần tuý là động tác, không hàm ý kính trọng. “Ghé mắt trông ngang” chứ không phải trông lên, đã thể hiện thái độ bất kính đối với “vị thần” xâm lược thất bại. “Đền thái Thú đứng cheo leo” hẳn là đền xây trên gò, và người ta không dễ trông ngang. Rõ ràng Hồ Xuân Hương cố tình chọn một cái nhìn coi thường đối với vị thái Thú ở nơi tha hương này. Chữ “cheo leo” cũng hay, nó chỉ đứng ở thế cao nhưng không có nơi bấu víu, dễ đổ ụp xuống. Chữ “kìa” cũng hàm ý bất kính, bởi nó kèm theo các động tác chỉ trỏ, mà đối với các nơi đền đài linh thiêng, người đến viếng không được nói to, giơ tay chỉ trỏ như đối với các đồ vật. Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất linh thiêng, cung kính của một ngôi đền.
Hồ Xuân Hương không chỉ nhìn ngang ngửa, chỉ trở trước một ngôi đền, mà bà lại còn tự ví mình, so sánh mình với người được thờ nữa:
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
Cái ý nghĩa “đổi phận làm trai” đã thể hiện cái mặc cảm phụ nữ thua lép nam giới mà xã hội phong kiến đã áp đặt ý thức vào nhà thơ. Nhưng mặt khác, nó cũng thể hiện nhu cầu đổi phận, không chịu an phận của bà. Cái cách bà tự xưng là “đây” để đổi lại với Sầm Nghi Đống là “đấy”, thì dù bà chưa đổi phận được, bà cũng đã rất coi thường vị nam nhi họ Sầm. Câu kết ‘há bấy nhiêu” có thể nghĩ rằng Hồ Xuân Hương tự cho mình có thể làm gấp nhiều lần, so với sự nghiệp của Sầm, song đúng hơn, nên hiểu là một lời dè bửu: sự nghiệp của ông có bấy nhiêu thôi ư, nó quá ít đối với một đáng nam nhi đấy.
Bài thơ là một khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ. Thái độ “bất kính” của bà là một thách thức đối với các “sự nghiệp anh hùng của nam nhi, thách thức đối với thần linh. Bài thơ thể hiện mạnh mẽ nhu cầu giải phóng cá tính của con người, bất chấp các ước lệ ràng buộc của xã hội phong kiến.
(Trần Đình Sử, (Chế Lan Viên, in trong Văn học trong nhà trường, Tác giả và tác phẩm, NXB Đại học Sư phạm, PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn, 2005)
Xác định luận đề của văn bản.
Xác định luận đề của văn bản.
Đọc đoạn mở đầu + kết luận, xác định vấn đề trung tâm mà người viết muốn làm sáng tỏ.
Luận đề: Phân tích bài thơ để làm nổi bật thái độ “bất kính” và khát vọng bình đẳng, giải phóng cá tính của Hồ Xuân Hương.
Giải thích:
Toàn văn xoay quanh việc lí giải cách nhìn, cách nói của Hồ Xuân Hương => từ đó khẳng định ý nghĩa tư tưởng của bài thơ
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
Một số link tham khảo:
Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận

Theo tác giả bài viết, đâu là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến?
Theo tác giả bài viết, đâu là trường hợp hiếm có đối với một người phụ nữ trong xã hội phong kiến?
Tìm chi tiết nêu trực tiếp trong đoạn đầu (có cụm “hiếm có”)
Hiếm có: “một nữ sĩ phóng khoáng, thích thăm thú, du ngoạn, cũng thường vung bút đề thơ.”
Giải thích:
Trong xã hội phong kiến, phụ nữ bị ràng buộc nên việc sống phóng khoáng, tự do sáng tác như vậy là rất khác thường.
- Văn nghị luận là thể loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, tưởng tượng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các lập luận
- Trong văn bản nghị luận, bên cạnh ý kiến lớn (quan điểm chính mà người viết muốn thuyết phục người đọc), còn có những ý kiến nhỏ nêu ra để bổ trợ cho ý kiến lớn. Mối quan hệ giữa ý kiến lớn, ý kiến nhỏ, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận được thể hiện qua sơ đồ sau:
Link tham khảo: Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Để làm sáng tỏ luận đề, người viết đã sử dụng những luận điểm nào?
Để làm sáng tỏ luận đề, người viết đã sử dụng những luận điểm nào?
Xác định các ý lớn triển khai luận đề => mỗi đoạn thường là một luận điểm.
Các luận điểm:
“Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cách nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền”
“tự ví mình, so sánh mình với người được thờ”
“Bài thơ là một khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ”
Giải thích:
Các luận điểm đi từ phân tích chi tiết thơ đến khái quát ý nghĩa tư tưởng
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
Một số link tham khảo:
Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận
Phân tích một lí lẽ và một bằng chứng trong VB để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất.
Phân tích một lí lẽ và một bằng chứng trong VB để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất.
Chọn 1 lí lẽ + 1 dẫn chứng tiêu biểu => phân tích ngắn gọn tác dụng.
– Lí lẽ: “ghé mắt trông ngang” thể hiện thái độ thiếu tôn kính.
– Bằng chứng: phân tích từ “ghé mắt”, “trông ngang”, “kìa”, “cheo leo”.
Lí lẽ kết hợp dẫn chứng cụ thể giúp làm rõ thái độ coi thường của Hồ Xuân Hương => lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
Giải thích:
Tác giả không nói chung chung mà chỉ ra từng từ cụ thể trong câu thơ để chứng minh. Những từ này đều thể hiện thái độ nhìn ngang, chỉ trỏ, thiếu trang nghiêm => làm rõ nhận định “bất kính” là có căn cứ, nên lập luận rất thuyết phục.
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
Một số link tham khảo:
Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận
Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn: “Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền… Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất linh thiêng, cung kính của một ngôi đền”.
Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn: “Mở đầu bài thơ, Hồ Xuân Hương đã biểu thị một cái nhìn xách mé, thiếu trân trọng đối với ngôi đền… Với hai câu thơ ấy, Hồ Xuân Hương đã tước bỏ hết tính chất linh thiêng, cung kính của một ngôi đền”.
Phân biệt: khách quan (dẫn chứng, giải thích) – chủ quan (nhận xét, đánh giá).
Đoạn văn kết hợp:
– Khách quan: giải thích nghĩa từ ngữ, hình ảnh thơ.
– Chủ quan: nhận xét “thiếu trân trọng”, “tước bỏ tính linh thiêng”.
Giải thích:
Sự kết hợp này giúp lập luận vừa có cơ sở khoa học vừa thể hiện quan điểm rõ ràng => tăng sức thuyết phục.
- Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...).
- Luận đề trong văn bản nghị luận là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,…) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.
- Luận điểm trong văn bản nghị luận là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận
- Lí lẽ trong văn bản nghị luận là những điều được nêu ra một cách có căn cứ, hợp lô-gic để làm rõ tính đúng đắn của luận điểm. Có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, sắc bén, tránh dài dòng và cảm tính
- Bằng chứng trong văn bản nghị luận là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,… được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan được dùng để làm
Một số link tham khảo:
Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận
Theo em, thái độ “bất kính” của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống là đáng khen hay đáng trách? Vì sao?
Theo em, thái độ “bất kính” của Hồ Xuân Hương trong bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống là đáng khen hay đáng trách? Vì sao?
Nêu quan điểm cá nhân => lí giải dựa trên nội dung và bối cảnh xã hội.
Thái độ “bất kính” là đáng khen.
Giải thích:
Đó không phải vô lễ mà là sự phản kháng tư tưởng phong kiến, đề cao cá tính và bình đẳng giới => thể hiện tinh thần tiến bộ.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?
Tác giả bài viết cho rằng: “Bài thơ là khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ.” Theo em, khát vọng đó còn còn phù hợp với xã hội ngày nay không? Vì sao?
Tác giả bài viết cho rằng: “Bài thơ là khát vọng được bình đẳng, khát vọng lập nên sự nghiệp anh hùng vẻ vang của một người phụ nữ.” Theo em, khát vọng đó còn còn phù hợp với xã hội ngày nay không? Vì sao?
Liên hệ hiện tại => đánh giá tính còn phù hợp của khát vọng.
Khát vọng đó vẫn còn phù hợp trong xã hội ngày nay.
Dù xã hội đã tiến bộ, nhưng việc khẳng định bản thân, bình đẳng giới và phát huy cá tính vẫn rất cần thiết => giúp con người phát triển toàn diện.
Giải thích:
Ngày nay tuy đã có bình đẳng hơn, nhưng con người (đặc biệt là phụ nữ) vẫn cần khẳng định bản thân, vươn lên và sống đúng cá tính. Vì vậy, khát vọng được bình đẳng và lập nên sự nghiệp vẫn là giá trị tích cực, cần được phát huy.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?








Danh sách bình luận