Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
BỆNH LỀ MỀ
Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy, nhưng thường bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện. Cuộc họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có người đến. Giấy mời hội thảo ghi 14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi người mới có mặt. Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một bệnh khó chữa.
Những người lề mề ấy, khi ra sân bay, lên tàu hỏa, đi nhà hát ...chắc là không dám đến muộn, bởi đến muộn là có hại ngay đến quyền lợi thiết thân của họ. Nhưng đi họp, hội thảo là việc chung, có đến muộn cũng không thiệt gì. Thế là hết chậm lần này đến chậm lần khác, và bệnh lề mề không sửa được.
Bệnh lề mề suy cho cùng là do một số người thiếu tự trọng và chưa biết tôn trọng người khác tạo ra. Họ chỉ quý thời gian của mình mà không tôn trọng thời gian của người khác. Họ không coi mình là người có trách nhiệm đối với công việc chung của mọi người.
Bệnh lề mề gây hại cho tập thể. Đi họp muộn, nhiều vấn đề không được bàn bạc thấu đáo, hoặc khi cần lại phải kéo dài thời gian. Bệnh lề mề gây hại cho những người biết tôn trọng giờ giấc. Ai đến đúng giờ lại cứ phải đợi người đến muộn. Bệnh lề mề tạo ra tập quán không tốt: Muốn người dự đến đúng giờ như mong muốn, giấy mời thường phải ghi giờ khai mạc sớm hơn 30 phút hay một giờ!
Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau. Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức. Nhưng những cuộc hội họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ. Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hóa.
(Theo Phương Thảo - Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam,2007, tr 20)
Văn bản “Bệnh lề mề” thuộc loại văn bản nào?
- Dựa vào mục đích của văn bản (trình bày ý kiến, bàn luận vấn đề).
- Nhận diện đặc điểm: có lí lẽ, dẫn chứng, lập luận.
Văn bản nghị luận
Giải thích:
Văn bản đưa ra vấn đề “bệnh lề mề” và phân tích, phê phán => đặc trưng thể loại văn bản nghị luận
- Văn nghị luận là thể loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, tưởng tượng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các lập luận
- Mục đích của văn bản nghị luận là để thuyết phục người đọc, người nghe về ý kiến, quan điểm của người viết trước một vấn đề đời sống hoặc văn học.
- Nội dung chính của văn bản nghị luận là ý kiến, quan điểm mà người viết muốn thuyết phục người đọc.
- Mọi vấn đề của đời sống xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học,… đều có thể được nêu ra để bàn trong văn bản nghị luận.
- Trong văn bản nghị luận, phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Link tham khảo: Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận

Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
- Xác định vấn đề chính được nhắc đi nhắc lại trong văn bản.
- Tìm từ khóa trung tâm.
Việc coi thường giờ giấc.
Giải thích:
Văn bản tập trung nói về hiện tượng đi muộn, coi thường thời gian.
- Văn nghị luận là thể loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, tưởng tượng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các lập luận
- Mục đích của văn bản nghị luận là để thuyết phục người đọc, người nghe về ý kiến, quan điểm của người viết trước một vấn đề đời sống hoặc văn học.
- Nội dung chính của văn bản nghị luận là ý kiến, quan điểm mà người viết muốn thuyết phục người đọc.
- Mọi vấn đề của đời sống xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học,… đều có thể được nêu ra để bàn trong văn bản nghị luận.
- Trong văn bản nghị luận, phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Link tham khảo: Văn bản nghị luận là gì? Các yếu tố cơ bản trong văn bản nghị luận
Từ ngữ in đậm trong đoạn văn dưới đây được sử dung theo hình thức liên kết nào?
“Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức. Nhưng những cuộc hội họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ.”
- Tìm từ nối giữa hai câu.
- Xác định kiểu liên kết (nối, lặp, thế...).
- Phép nối
- Từ liên kết: “Nhưng”
Giải thích:
Từ “Nhưng” dùng để nối hai câu có ý nghĩa đối lập => Dấu hiệu của phép nối
- Liên kết là một trong những tính chất quan trọng của văn bản, có tác dụng làm cho văn bản trở nên mạch lạc, hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức.
- Các phép liên kết trong câu:
+ Phép nối: sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước.
+ Phép thế: sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước.
+ Phép lặp từ ngữ: lặp lại ở câu đứng sau các từ ngữ đã có ở câu trước.
+ Phép liên tưởng: sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước.
Một số link tham khảo:
Em có đồng ý với ý kiến sau đây không? Vì sao?
“Làm việc đúng giờ là tác phong của người có văn hóa.”
Liên hệ thực tế, nêu suy nghĩ của bản thân
− Em có đồng ý với ý kiến trên
− Vì: Đúng giờ có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Người có văn hoá là người biết trân trọng, sử dụng thời gian một cách hợp lí. Từ đó khiến cuộc sống của họ thành công, có kế hoạch. Làm việc đúng giờ không chỉ là quy định mà còn là văn minh. Vì vậy mỗi người đều cần phải có đức tính này.
Giải thích:
Làm việc đúng giờ thể hiện sự tôn trọng bản thân và người khác. Đây là biểu hiện của người có ý thức, có văn hóa.
Qua văn bản trên em rút ra bài học gì về việc sử dụng thời gian?
Từ nội dung rút ra bài học phù hợp
Bài học
- Nên sử dụng thời gian một cách hợp lí
- Mỗi người nên có thời gian biểu, thời khoá biểu,.. để có một kế hoạch cụ thể, chi tiết, tránh lãng phí thời gian
- Thời gian qua đi thì khó mà quay trở lại, nên hãy trân trọng, giữ gìn từng giây phút một
Giải thích:
Văn bản phê phán thói quen lề mề, chậm trễ đồng thời khẳng định quản lí tốt thời gian giúp nâng cao hiệu quả học tập và làm việc
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Bối cảnh truyện Cô bé bán diêm diến ra khi nào?
Đêm noel
Đêm giao thừa
Sinh nhật cô bé
Giỗ bà ngoại
Bài 2 :
Tác phẩm Hai cây phong thuộc thể loại gì?
Tiểu thuyết
Truyện vừa
Tùy bút
Ký sự
Bài 3 :
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng ở văn bản Bàn luận về phép học ?
Tự sự
Biểu cảm
Nghị luận
Thuyết minh
Bài 4 :
Đâu không phải là sáng tác của Ngô Tất Tố?
Tắt đèn
Lều chõng
Bước đường cùng
Việc làng
Bài 5 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thời gian là vàng
Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng”. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian thì không mua được. Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian thì vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất cơ hội là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau có hối cũng không kịp.
﴾Theo Phương Liên﴿
Bài 6 :
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Một người nuôi trai lấy ngọc luôn suy nghĩ làm thế nào để tạo được viên ngọc trai tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Ông ra bãi biển để chọn một hạt cát. Để chọn được một hạt cát theo ý muốn, ông đã hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không. Các hạt cát lắc đầu nguầy nguậy khiến ông sắp tuyệt vọng.
Đang lúc đó có một hạt cát đồng ý. Các hạt cát khác đều giễu nó ngốc, chui đầu vào trong vỏ trai, xa lánh người thân, bạn bè, không thấy ánh sáng mặt trời trăng sao, gió mát, thậm chí thiếu cả không khí, chỉ có bóng tối ướt lạnh, cô đơn, rất đau khổ, thử hỏi có đáng không? Nhưng hạt cát vẫn theo người nuôi trai về không một chút oán than.
Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…
(Qùa tặng cuộc sống)
Bài 7 :
Tục ngữ là gì?
Bài 8 :
Về nội dung, tục ngữ thể hiện điều gì?
Bài 9 :
Về hình thức, tục ngữ có các đặc điểm gì?
Bài 10 :
Bốn cặp câu thơ thường tương ứng với những phần nào?
Bài 11 :
Mỗi câu của bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường có mấy chữ?
Bài 12 :
Thơ sáu chữ, bảy chữ là thể thơ như thế nào?
Bài 13 :
Hãy nêu điểm giống và khác nhau giữa thơ sáu chữ và thơ bảy chữ.
Bài 14 :
Nối khái niệm ở cột A với đặc điểm tương ứng ở cột B:

Bài 15 :
Vần liền, vần cách nằm trong nhóm vần chân hay vần lưng?
Bài 16 :
Hãy xác định bố cục của bài thơ Mây và sóng (Ta-go). Từ đó, xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ này.
Bài 17 :
Trong khổ thơ sau, nhà thơ đã sử dụng loại vần nào?
“Đầu những hồn thân tự thuở xưa
Những hồn quen dài gió dầm mưa
Những hỗn chất phác hiện như đất
Khoai sẵn tinh quê rất thiệt thà.”
(Tố Hữu, Nhớ đồng)
Bài 18 :
Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CHÍN CON RỒNG NHỎ BAY LÊN
Trần Quốc Toàn
Ghe ngon vừa nghe trống lện
Vẫy gió một trăm khăn hồng
Một trăm mái chèo khuấy nước
Bay lên chín con sông rồng.
Bay lên sông mẹ nghìn giọt
Đi tìm Sóc Trăng đồng chua
Đi tìm Trà Vinh đất khát
Chúng em thay trời làm mưa.
Giọt giọt mồ hôi mặn chát.
Đã ngọt trong cơn mưa vui
Mái dầm thiếu nhi thọc lét
Sông cười sóng reo thành lời.
Sáng nay ghe ngo vào hội
Mặt sông Cửu Long sáng ngời
Nhịp xuân tay đua gắng gỏi
Ghe ngo nối đất với trời...
(In trong Bữa tiệc của loài vật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008)
Bài 19 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
VỚI CON
Vũ Quần Phương
1. Bồng bồng!
Bố bồng con trên tay
Buổi chiều nay, buổi chiều nay
Khói hàng xóm bay là trên bếp
Sau trận mưa trời mát hơi may.
2. Bố bế con ra ngoài mái hiên
Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn
Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!
Cây giữa vườn cây, cỏ trước thềm.
3. Bố bế con ra với phố phường
Xe chạy người đi như nước tuôn
Cây xanh, ngói đỏ, con đừng lạ
Muối mặn, gừng cay, hoa trái thơm.
4. Bố bế con ra với cuộc đời
Con ơi yêu lấy mặt con người
Tươi như quả chín, hồng như thắp
Sau nét âu lo, vẫn nét cười.
5. Bố nhấc con lên, bố nhấc lên
Dâng qua vai bố để con nhìn
Mai sau thành bạn đi cùng bố
Đường rộng trời ta xa mãi thêm.
(In trong Tác phẩm văn học được giải thưởng nhà nước, Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian, NXB Hội Nhà văn, 2014)
Bài 20 :
Vẽ sơ đồ tóm tắt luật, niêm, vần, nhịp, đối của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt luật Đường.
Bài 21 :
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:
MỜI TRẦU
Hồ Xuân Hương
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, NXB Khoa học xã hội, 2000)
a. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc?
c. Chỉ ra bài thơ đã tuân thủ luật, niêm, vần, đối của thể thơ như thế nào (kẻ và hoàn thành bảng sau vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
d. Nhận xét về cách ngắt nhịp của bài thơ.
đ. Xác định bố cục của bài thơ.
e. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết?
g. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 22 :
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THU VỊNH
Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(In trong Nguyễn Khuyến – Tác phẩm chọn lọc, Lại Văn Hùng (giới thiệu và tuyển chọn), NXB Giáo dục, 2009)
a.Xác định bố cục của bài thơ.
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc? Làm rõ bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường bằng cách điền vào bảng sau (làm vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
c. Cảnh mùa thu được thể hiện ra sao qua sáu câu thơ đầu? Khung cảnh ấy góp phần thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
d. Trong các cặp câu 3 - 4, 5 – 6, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của chúng.
e. Bài thơ được ngắt nhịp như thế nào? Nhận xét về cách ngắt nhịp đó.
Em hiểu gì về hai câu thơ cuối? Theo em, cảm xúc của tác giả ở hai câu thơ này có sự thay đổi ra sao so với các câu thơ trên?
f. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 23 :
Tư tưởng của tác phẩm văn học được biểu hiện qua những yếu tố nào?
a. Nhân vật chính, người kể chuyện, đề tài, chủ đề,…
b. Đề tài, chủ đề, nhân vật,….
c. Hình tượng nghệ thuật, đề tài, chủ đề, cảm hứng nhân đạo,….
d. Hình tượng nghệ thuật, nhân vật, cảm hứng chủ đạo,….
Bài 24 :
Đọc đoạn trích sau và liệt kê những chi tiết miêu tả lời nói, thái độ, hành động của nhân vật Xa-vu-skin, chọn phân tích một chi tiết mà em thích nhất:
- Cô An-na Va-xi-li-ép-na, cô nhìn xem này!
Nó gắng sức vần một tảng tuyết bên dưới bết những đất cùng với đám cỏ mục nát vẫn còn sót lại. Ở đây, trong một cái hố, có một cục tròn bọc trong những tấm lá đã mủn nát mỏng dính như mạng nhện. Qua lớp lá thòi ra những đầu kim nhọn hoắt.
An-na Va-xi-li-ép-na đoán ra đấy là con nhím.
- Nó tự ủ ấm mới khéo chứ! – Xa-vu-skin ân cần đắp cho con nhím tấm chăn mộc mạc của nó. Rồi thằng bé bới tuyết cạnh một khúc rễ khác. Trước mắt là một cái hang nhỏ xíu, trên vòm có những trụ băng rủ xuống như tua viền. Trong hang, một con nhái màu nâu nom như bằng bìa cứng ngồi chồm hổm, làn da căng dính xương bóng như đánh véc-ni, Xa-vu-skin sờ vào con nhái, nó không động đậy.
- Vờ vĩnh! – Xa-vu-skin bật cười – Làm như đã chết rồi. Thế mà nắng ấm lên là nó nhảy ngay đi cho mà xem, ôi chao, cứ là như choi choi ấy! Thằng bé tiếp tục đưa An-na Va-xi-li-ép-na đi thăm cái thế giới bé nhỏ của mình.
Dưới gốc sồi còn nhiều khách trọ khác: bọ dừa, thằn lằn, rệp cây. Một sống ẩn kín dưới các nhánh rễ, số khác rúc vào những kẽ vỏ cây. Con nào cũng gầy nhom, dường như bên trong rỗng tuếch, chúng ngủ vùi cho qua mùa đông. Cái cây cường tráng, tràn trề nhựa sống tích tụ quanh nó nhiều sinh lực ấm áp đến nỗi loài thú đáng thương không thể tìm đâu ra căn nhà tốt hơn.
(Iu-ri Na-ghi-bin, Cây sồi mùa đông)
Bài 25 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TÍ BỤI
Quế Hương
Hồi mới đến ở, nhà tôi cứ tì tì mất dép. Đôi săng đan con mới xó chân ngày mồng một Tết, mồng hai phải đi dép cũ. Anh bạn đến chơi lịch sự cởi giày ở tầm chùi chân trước hiên, ra về chỉ còn đối vớ! Học trò đến thăm có đứa đi chân không về. Tôi than phiền với người hàng xóm, chị ấy bảo: “Thằng Tí bụi chứ ai vô đây. Sư tổ ăn cắp vặt. Cô vô nhà hắn mà chửi." Tôi không biết chửi. Vả lại không bắt quả tang làm sao mà chửi hắn. Thế là tôi bắt đầu cảnh giác. Khi có khách, tôi nhìn chăm chăm ra cổng.
Rồi nhà tôi bỗng xuất hiện một vị khách không mời. Đó là một con chó đen tuyền, gầy gò ngồi chực trước cửa. Ngó bộ dạng chẳng mấy khi được no của hắn tôi thấy thương ném cho mấy mẩu xương. Hôm sau, hắn lại xuất hiện, mắt dán vào tôi. Không cầm lòng được, tôi lại cho ăn. Cứ thế ngày lại ngày, giữa hắn và tôi bỗng hình thành một mối dây buộc chặt. Có xương tôi để dành cho hắn. Đi ăn giỗ ở nhà mẹ tôi cũng nghĩ đến hắn và nhặt cả túi xương về cho hắn. Tôi mở cửa cho hắn vào nhận quà. Hắn nhìn đống xương ứa nước dãi nhưng chưa ăn ngay.
Hắn nằm xoài trước hiện, gối đầu lên hai chân trước thở hắt ra sung sướng như một kẻ được nằm nghỉ trên chiếc giường thân thuộc của mình, mắt vẫn ngủ tôi đợi chờ thực với vuốt ve. Bao giờ ăn hắn cũng chừa lại một mẩu to nhất tha về. Thế rồi một lần hắn đang ăn bỗng có tiếng huýt gió. Lập tức hắn bỏ bữa rồi len lén tha một chiếc dép chạy ra cổng. Thì ra thủ phạm trộm đẹp nhà tôi chính là hắn. Nói đúng hơn là tên huýt gió. Thấy tôi cảnh giác, nó huấn huyện con chó thành tòng phạm.
Hắn vẫn ngồi trước cổng nhà tôi dẫu cổng và cả lòng tôi đã khép. Thấy tôi, hắn vẫy đuôi. Tôi bỏ đi, hắn tru lên thảm thiết. Giận dữ tôi ném chiếc dép còn lại mà hắn đã tha mất một chiếc qua rào nhưng hắn không thèm nhặt. Ném một mẩu xương hắn cũng không buồn ăn. Hắn nhìn tôi và cái cổng đóng chặt như muốn hỏi tại sao không mở cho hắn.
Tôi gặp hắn đi cùng một thằng nhóc ra chợ. Tôi lơ hắn còn hắn chạy đến vẫy đuôi tíu tít mừng tới, "Win, lại đây!" Thằng nhóc gọi. Thì ra hắn tên Win. Còn thằng kia chắc là Tí bụi vì trông hắn rất "bụi" Loắt choắt, bẩn thỉu, ranh ma. Mua xong, ra đến cửa chợ tôi bỗng nghe tiếng chân sầm sập và tiếng la í ới "Trộm... trộm... bắt lấy!". Một con chó đen miệng ngậm tảng thịt lao ra khỏi chợ, ngang qua tôi bỗng dừng lại. Chỉ cần tích tắc khựng lại ấy, người dân theo đằng sau đã kịp quật một gậy. Đau quá hắn khuỵu xuống. Chiếc gậy lại nhằm đầu hắn vụt tới. Tôi kịp thấy đôi mắt hắn nhìn tôi da diết. Không nghĩ, tôi đưa chiếc giỏ thức ăn để đòn cho hắn. Còn cho thoát hiểm gượng dậy lảo đảo chạy tiếp còn tôi ngồi giữa đồng đồ ăn tung tóe với bao câu rủa ráy: Tự nhiên hứng! Chắc là chủ. Ngó thế mà là chủ của con chó ăn cắp! Đền đây! Hơn kí thịt đấy!...
Trưa hôm ấy, một đôi dép phiêu bạt bỗng trở về lại mái nhà xưa!
Từ đó cổng nhà tôi hay mở và con Win vào năm xoài trước tái hiện đầy nắng. Nó ăn, lơ mơ ngủ rồi sực nhớ đến chủ lại tất tả ra về. Thỉnh thoảng tôi gói cái gì đó trong bao ni lông. Con chó thật khôn, thấy đưa bao ni lông là biết ngay quà của chủ, lập tức ngậm ở miệng chạy về. Trong bao ni lông đôi khi còn là mấy chiếc áo cũ. Soạn đồ của con, tôi chính nghĩ đến chiếc áo bẩn ngắn cũn cỡn không cài khuy của Tí bụi…
Con Win ngày càng nặng nề. Thì ra hắn sắp làm mẹ. Một lần có giỗ, đợi hắn không ra, tôi cần bịch thức ăn hỏi như Tí bụi. Hắn ở tuốt xóm trong, bên hồ rau muống của bà Tư. Không ai thấy cha hắn. Hai mẹ con sống lăn lóc ở họ phố bụi bờ. Bà Tư cho che tạm túp lều bên hồ rau muống để vừa canh rau cho bả vừa có chỗ chui ra chui vào. “Nhà” Tí bụi mùa hè mát nhung mùa đông lạnh lùng. Túp lều đầy rác, nhỏ nhoi như tai nấm, không biết tựa vào đầu để trốn gió. Những tấm ni lông che chắn tạm bợ cứ lật lòng khoe túp lều nát rác đuổi nhau loăng quăng. Bà mẹ tâm thần của Tí bụi ngày nào cũng đi kiểm rác rồi tẩn mẩn đếm như người ta đếm tiền, thỉnh thoảng phì cười một mình.
Con Win có nhiệm vụ không cho người lạ vặt rau muống của bà Tư, không cho bà điên ra khỏi nhà ban đêm và theo Ti bụi kiếm ăn. Thấy tôi, hắn nhổm dậy mừng rồi lại nằm xuống hãnh diện liếm mấy chú cún bé xíu trên chiếc bao tời rách như muốn khoe rằng con hắn đấy! Còn Tí bụi đang luộc rau muống bằng rác, chùi tay vào quần giương mắt ngó tôi.
Trong túp lều rách nát ấy, những sinh vật khốn cùng lại rất thương nhau. Thấy cách Tí bụi săn sóc bà mẹ điên và bầy chó, tôi nhận ra sau lớp bụi đời và cáu bẩn, tâm hồn hắn vẫn lóng lánh những sắc màu đáng quý. Bầy chó con dễ thương lên từng ngày. Ti bụi bảo con đẹp nhất sẽ tặng tôi. Nhiều đêm tôi thức giấc, túp lều ngập rác và ngập cả tình yêu ấy bỗng hiện ra. Cả những dự tính. Chẳng hạn chuyện Ti bụi học chữ, đi bán vé số thay vì moi rác và ăn cắp...
Sáng ấy, tôi có tiết thao giảng. Vừa dắt xe ra đã thấy Ti bụi đợi ở cổng, nghẹn ngào! “Cô ơi! Con Win...”
Bà mẹ điên của Tí bụi lang thang tìm con Win, gặp ai cũng hỏi: “Thấy hắn mô không? Đêm qua tui trốn hắn đi chơi... Chứ hắn trốn tui đi chơi….”.
Dấu máu con Win vẫn còn trên lối xóm. Hắn bị bọn bắt chó quật gây sắt vào đầu khi chạy theo bà điên...
Trời trở lạnh Túp lều bên hồ rau muống đầy gió và im lặng. Những mảnh ni lông rách te tua vẫn cuồng loạn trong vũ khúc gió. Rác loãng quãng chơi trò đuổi nhau. Không thấy Tí bụi. Lù lù trong túp lều trống hoác là ổ chó chưa mở mắt. Chúng đang đói lạnh vì thiếu mẹ. Tôi cầm đĩa sẵn đến đó và thấy lũ chó châu đầu rúc vào một đồng đen đen. Nhìn kĩ là Tí bụi. Nó trùm bao tới, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!
(In trong Đám cưới cô, Quế Hương. NXB Kim Đồng, 2019)
Bài 26 :
Trình bày khái niệm của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
Bài 27 :
Cấu trúc của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường gồm mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì?
Bài 28 :
Nhận định nào sau đây KHÔNG PHẢI là đặc điểm về cách sử dụng ngôn ngữ của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
a. Thường sử dụng từ ngữ thuộc một chuyên ngành khoa học cụ thể.
b. Thường sử dụng động từ miêu tả hoạt động hoặc trạng thái.
c. Thường sử dụng câu khiến để chỉ hành động hoặc yêu cầu thực hiện.
d. Thường sử dụng từ ngữ miêu tả trình tự của một hoạt động.
Bài 29 :
Trình bày khái niệm và dấu hiệu nhận biết cách trình bày thông tin theo cấu trúc so sánh và đối chiếu trong văn bản thông tin.
Bài 30 :
Việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường mang đến những hiệu quả biểu đạt như thế nào?
Danh sách bình luận