Đề bài

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

(…) Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. (…)

Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.

(Trích truyện ngắn Nhà mẹ Lê – Thạch Lam – NXB Hội Nhà văn 2008)

Chú thích:

– Thạch Lam (1910-1942), tên thật là Nguyễn Tường Vinh sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Là cây bút truyện ngắn tài hoa trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác thường hướng vào cuộc sống cơ cực của những người dân thành thị nghèo và vẻ đẹp nên thơ của cuộc sống thường nhật.

– “Nhà mẹ Lê” là tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc được xuất bản lần đầu năm 1942. Truyện ngắn không chỉ tái hiện tình cảm mẹ con xúc động mà còn dựng nên cả bức tranh toàn cảnh làng quê Việt Nam Cách mạng tháng Tám.

Câu 1

Xác định ngôi kể trong đoạn trích.

Phương pháp giải

- Đọc đoạn trích, tìm các từ xưng hô/đại từ: “tôi”, “ta”, “chúng tôi” hay “bác Lê”, “mẹ con bác ta”, “nó”, “chúng nó”…

- Xác định người kể có tham gia câu chuyện không.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Ngôi thứ ba.

Giải thích:

Đoạn trích kể về nhân vật bằng cách gọi tên “bác Lê”, “mẹ con bác ta”, “chúng nó”, “nó” chứ không dùng “tôi”. Người kể đứng ngoài quan sát và thuật lại cuộc sống gia đình bác Lê ⇒ ngôi kể thứ ba.

Mở rộng

- Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện.

- Phân biệt:

+ Ngôi kể thứ nhất, khi tự xưng “tôi”, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra những cảm tưởng, ý nghĩ của mình.

+ Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.

Link tham khảo: Lời người kể chuyện


Xem thêm các câu hỏi cùng đoạn
Câu 2

Trong đoạn trích, ngoại hình nhân vật bác Lê được miêu tả qua các chi tiết nào?

Phương pháp giải

- Đọc đoạn: “Bác Lê là một người đàn bà…”, chú ý các từ ngữ miêu tả dáng người – da – mặt – chân tay.

- Gạch chân chi tiết và chép đúng theo văn bản

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Ngoại hình bác Lê: Chắc chắn, thấp bé; da mặt và chân tay răn reo như quả trám khô.

Giải thích:

Ngoại hình bác Lê được miêu tả qua các chi tiết: “chắc chắn và thấp bé”, “da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô”

Mở rộng

Đặc điểm nhân vật là những nét riêng của nhân vật trong truyện, thường được thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ,…

Link tham khảo: Đặc điểm nhân vật trong truyện


Câu 3

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” để làm sáng tỏ chủ đề của câu chuyện..

Phương pháp giải

- Tìm từ so sánh: “như”.

- Xác định 2 vế so sánh: A được so với B.

- Nêu tác dụng theo 2 hướng: gợi hình – gợi cảm và làm nổi bật nội dung/chủ đề

Lời giải của GV Loigiaihay.com

- BPTT so sánh: “thịt chúng nó thâm tím lại vì rét” với “thịt con trâu chết”.

- Tác dụng:

+ Làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu sức gợi hình, gợi cảm.

+ Khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của những đứa trẻ trong gia đình bác Lê.

+ Tác giả thể hiện lòng đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với những đứa trẻ con nhà nghèo.

Giải thích:

Biện pháp so sánh: so sánh “thịt chúng nó thâm tím lại vì rét” với “thịt con trâu chết” khiến người đọc hình dung rõ cái rét làm da thịt trẻ nhỏ tím tái, tê buốt; so với “thịt con trâu chết” là hình ảnh rất cực đoan, đau xót → cho thấy các em bị hành hạ bởi nghèo đói. Qua đó, tác giả bộc lộ tình thương, lòng trắc ẩn và đồng cảm sâu sắc với người nghèo, góp phần làm rõ chủ đề hiện thực: cuộc sống cơ cực của dân nghèo.

Mở rộng

- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.

- Cấu trúc hoàn chỉnh phép so sánh: SV1 + PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH + TỪ NGỮ SO SÁNH + SV2

- Dấu hiệu nhận biết các kiểu so sánh:

+ So sánh ngang bằng: như, là, bằng, tựa,...

+ So sánh không ngang bằng: chưa bằng, chẳng bằng, hơn, kém,..

Khi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong một ngữ liệu đã cho, ta cần chỉ ra ít nhất 2 tác dụng dựa vào gợi ý sau:

+ Tác dụng nghệ thuật: giúp cho câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm,...

+ Tác dụng nội dung: Nhấn mạnh/ Làm nổi bật đối tượng hoặc đặc điểm nào của đối tượng?

+ Tác dụng biểu cảm: Tác giả bày tỏ thái độ, tình cảm, cảm xúc gì về đối tượng? Tác giả khơi gợi cho người đọc cảm xúc gì?

Link tham khảo: Biện pháp so sánh


Câu 4

Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì đối với gia đình bác Lê?

Phương pháp giải

- Chú ý đoạn: “Chừng ấy người chen chúc…” và “Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm…”

- Tìm các chi tiết miêu tả cuộc sống nghèo khổ: nhà lụp xụp, chen chúc, ổ rơm, đói rét…

- Nhận xét giọng văn: xót xa, thương cảm hay lạnh lùng?

- Tìm chi tiết thể hiện tình mẹ: “quí con lắm”, “bế… hôn hít…”.

- Khái quát thái độ của tác giả.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Đồng cảm, xót xa; ca ngợi tình mẫu tử, lên án tội ác thực dân phát xít.

Giải thích:

Tác giả thể hiện đồng cảm, xót xa cho hoàn cảnh khốn khó của mẹ con bác Lê qua hàng loạt hình ảnh thương tâm: nhà chật chội, ổ rơm như “ổ chó”, con cái đói rét tím tái… Đồng thời, tác giả còn ca ngợi tình mẫu tử vì dù nghèo khổ, bác Lê vẫn yêu con hết mực, “bế lên lòng, hôn hít”.


Câu 5

Từ câu chuyện về nhà mẹ Lê, em rút ra bài học gì có ý nghĩa nhất đối với bản thân?

Phương pháp giải

- Xác định thông điệp chính: nghèo khổ nhưng giàu tình thương.

- Rút ra bài học gắn với bản thân: thái độ sống, cách cư xử trong gia đình.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Bài học: Cần biết yêu thương, chia sẻ, trân trọng gia đình. Gia đình là nơi gắn kết yêu thương, là chỗ dựa tinh thần quý giá nhất.

Giải thích:

Gia đình bác Lê tuy nghèo khổ nhưng vẫn tràn ngập tình yêu thương. Điều này nhắc nhở mỗi người về giá trị của sự gắn bó, sẻ chia trong gia đình, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.


BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...

Các bài tập cùng chuyên đề

Bài 1 :

Truyện đeo nhạc cho mèo nhằm phê phán loại người nào trong xã hội?

  • A.

    Những kẻ thiếu nhận thức, thích phiêu lưu

  • B.

    Những kẻ hèn nhát nhưng viển vông

  • C.

    Những kẻ sẵn sàng rũ bỏ trách nhiệm với mọi người

  • D.

    Cả A, B và C

Xem lời giải >>

Bài 2 :

Trong văn bản Bức tranh của em gái tôi, trước đó, người anh có thái độ gì với em gái?

  • A.

    Bực bội, khó chịu vì em gái hay lục lọi

  • B.

    Kẻ cả, xem thường, cho là em nghịch ngợm

  • C.

    Lấy làm lạ, bí mật theo dõi em

  • D.

    Ngăn cản không cho em nghịch

Xem lời giải >>

Bài 3 :

Tác phẩm Nụ cười Chim Sắt của Võ Thu Hương thuộc thể loại gì?

  • A.

    Thơ tự do

  • B.

    Truyện kí

  • C.

    Tùy bút

  • D.

    Tiểu thuyết

Xem lời giải >>

Bài 4 :

Các nội dung nào đã được nêu lên trong phần Yêu cầu cần đạt của Bài Mở đầu?

Bài mở đầu giúp HS hiểu được:

A.Yêu cầu rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe, các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung trong Chương trình Ngữ văn 2018

B. Những nội dung chính và hình thức cơ bản của một văn bản – tác phẩm văn bản

C. Nội dung khái quát, cấu trúc của sách và các bài học trong SGK Ngữ văn 6

D. Phương pháp học và yêu cầu đánh giá kết quả học tập

 

Xem lời giải >>

Bài 5 :

Phương án nêu đúng những loại văn bản lớn trong SGK Ngữ văn 6?

A. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin

B. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản truyện

C. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản thơ lục bát

D. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyền thuyết

Xem lời giải >>

Bài 6 :

Phương án nêu đúng những loại văn bản lớn trong SGK Ngữ văn 6?

A. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin

B. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản truyện

C. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản thơ lục bát

D. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyền thuyết

Xem lời giải >>

Bài 7 :

Phương án nào nêu tên các thể loại của văn bản văn học trong SGK Ngữ văn 6?

A. Truyện, thơ, văn bản thông tin

B. Truyện, thơ, văn bản nghị luận

C. Truyện thơ, kí

D. Truyện, văn nghị luận, văn bản thông tin.

Xem lời giải >>

Bài 8 :

Trong Bài Mở đầu, mục I gồm: Đọc hiểu văn bản truyện; Đọc hiểu văn bản thơ; Đọc hiểu văn bản kí; Đọc hiểu văn bản nghị luận; Đọc hiểu văn bản thông tin; Rèn luyện tiếng Việt. Phương án nêu đúng nội dung chính các phần lớn của mỗi mục?

A. Nêu lên mục tiêu các bài học

B. Nêu lên các yêu cầu cần đạt

C. Tóm tắt nội dung các bài học

D. Tóm tắt cách đọc các văn bản

Xem lời giải >>

Bài 9 :

a) SGK Ngữ văn 6 hướng dẫn em đọc hiểu những thể loại truyện nào? 

A. Truyền thuyết, cổ tích, đồng thoại, truyện ngắn

B. Truyền thuyết, truyện nước ngoài, truyện ngắn

C. Truyền thuyết, đồng thoại, truyện nước ngoài

D. Truyền thuyết, cổ tích, đồng thoại, truyện dân gian

b) Đọc mục 1. Đọc hiểu văn bản truyện trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:

Nội dung

Tên văn bản

Truyện về hai cha con Dế Vần và chú chim nhỏ

 

Truyện về ông lão đánh cá và bà vợ tham lam, ích kỉ

 

Truyện về chàng trai nghèo nhưng trung thực, dũng cảm, bao dung

 

Truyện về một nhân vật kiêu căng, hống hách nhưng biết ân hận về những việc làm không đúng

 

Truyện về ba người bạn nhỏ, ban đầu có ý định trả thù, cuối cùng kết thức thành một khối yêu thương

 

Truyện về người em gái có tấm lòng và tình cảm trong sáng, vô tư

 

Truyện về sự tích vua Lê trả lại gươm thần

 

Truyện về người anh hùng làng Gióng đánh giặc cứu nước

 

Truyện về em bé tội nghiệp chết vì đói rét trong đêm Giáng Sinh

 

 

Xem lời giải >>

Bài 10 :

Đọc mục 2. Đọc hiểu văn bản thơ trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:

Nội dung

Tên văn bản

Cảm xúc nghẹn ngào về nhà thăm mẹ

 

Hình ảnh hồn nhiên, nhí nhảnh của chú bé liên lạc dũng cảm

 

Những xúc động, bâng khuâng khi nghĩ về bàn tay của mẹ

 

Ca ngợi, đề cao công cha, nghĩa mẹ

 

Tình cảm da diết, cảm động của người chiến sĩ đối với Bác Hồ

 

Hình ảnh và tâm tư, suy nghĩ của chú gấu con ngộ nghĩnh, hồn nhiên, vui nhộn

 

Xem lời giải >>

Bài 11 :

Đọc mục 3. Đọc hiểu văn bản kí trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:

Nội dung

Tên văn bản

Qua văn bản, các em sẽ được cảm nhận thế nào là tình mẫu tử sâu nặng

 

Đó là những ghi chép về tuổi thiếu niên của nhà sáng lập hãng xe Honda nổi tiếng của Nhật Bản

 

Qua văn bản, các em sẽ hiểu thêm về một mảnh đất nổi tiếng phương Nam

 

Xem lời giải >>

Bài 12 :

Đọc mục 4. Đọc hiểu văn bản nghị luận trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:

Nội dung

Tên văn bản

Phân tích nội dung, ý nghĩa của truyện Thánh Gióng

 

Chỉ ra sự cảm nhận tinh tế của tác giả dân gian trước vẻ đẹp của cô gái và cánh đồng lúa mênh mông, bát ngát

 

Giúp em hiểu vì sao Nguyên Hồng lại viết rất hay về tầng lớp những người cùng khổ

 

Giải thích vì sao phải tiết kiệm nước ngọt

 

Lí giải về những lợi ích của vật nuôi trong nhà

 

Nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo vệ động vật

 

Xem lời giải >>

Bài 13 :

Đọc mục 5. Đọc hiểu văn bản thông tin trong SGK và sắp xếp tên các văn bản thông tin theo hai đề tài vào bảng sau:

Tên văn bản

Thuật lại một lịch sử sự kiện

Thuật lại một sự kiện văn hóa, thể thao, khoa học

Giờ Trái Đất

 

 

Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng

 

 

Hồ Chí Minh và “Tuyên ngôn độc lập”

 

 

Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ

 

 

Điều gì giúp bóng đá Việt Nam giành chiến thắng?

 

 

Những phát minh “tình cờ và bất ngờ”

 

 

Xem lời giải >>

Bài 14 :

Phương án nào không phải là dạng bài tập tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 6?

A. Nhận biết đơn vị tiếng Việt.

B. Phân tích tác dụng của đơn vị tiếng Việt 

C. Phân tích hệ thống các đơn vị tiếng Việt

D. Tạo lập đơn vị tiếng Việt. 

Xem lời giải >>

Bài 15 :

Xác định tên các kiểu văn bản (Phần II. Học viết trong SGK) và yêu cầu cơ bản của mỗi kiểu văn bản tương ứng được rèn luyện viết ở SGK Ngữ văn 6.

Xem lời giải >>

Bài 16 :

Phương án nào sau đây nêu đúng thứ tự các bước mà người viết cần thực hiện để viết một văn bản?

A. Tìm ý và lập dàn ý, chuẩn bị, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết

B. Chuẩn bị, tìm ý và lập dàn ý, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết

C. Lập dàn ý, chuẩn bị, tìm ý và viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết

D. Tìm ý và chuẩn bị, lập dàn ý, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết

Xem lời giải >>

Bài 17 :

Xem phần III. Học nói và nghe trong SGK, điền tóm tắt các yêu cầu của kỹ năng nói và nghe theo bảng sau:

Kĩ năng

Yêu cầu

Nói

 

Nghe

 

Nói, nghe tương tác

 

Xem lời giải >>

Bài 18 :

Xem phần Cấu trúc của sách Ngữ văn 6 và ghi nhiệm vụ của HS vào cột phải.

Các phần của bài học

Nhiệm vụ của HS

Yêu cầu cần đạt

 

Kiến thức ngữ văn

 

ĐỌC

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

- Tên văn bản

- Chuẩn bị

- Đọc hiểu

TIẾNG VIỆT

THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU

- Tên văn bản

- Chuẩn bị

- Đọc hiểu

 

VIẾT

- Định hướng

- Thực hành

 

NÓI VÀ NGHE

- Định hướng

- Thực hành

 

TỰ ĐÁNH GIÁ

 

HƯỚNG DẪN TỰ HỌC

 

Xem lời giải >>

Bài 19 :

Trình bày đặc điểm của văn bản truyện, văn bản truyền thuyết?

Xem lời giải >>

Bài 20 :

Ý nào dưới đây không thể hiện đặc điểm của nhân vật truyền thuyết?

a. Thường có những điểm khác lạ về lai lịch, phẩm chất

b. Nhân vật là những người bình thường, nghèo khổ

c. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng

d. Được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ

Xem lời giải >>

Bài 21 :

Đặc điểm nào dưới đây không phải đặc điểm của cốt truyện truyền thuyết?

a. Thường xoay quanh công trạng, kì tích của nhân vật mà cộng đồng truyền tụng, tôn thờ

b. Thường sử dụng yếu tố kì ảo nhằm thể hiện tài năng, sức mạnh khác thường của nhân vật

c. Thường kết thúc có hậu, thưởng phạt phân minh

d. Cuối truyện thường gợi nhắc các dấu tích xưa còn lưu lại đến hiện tại

Xem lời giải >>

Bài 22 :

Đọc VB dưới đây và trả lời các câu hỏi bên dưới:

                                                TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA

      Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên miền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.

      Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Cô vừa hái dưa vừa tung lên trời để đùa nghịch. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô bé mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão cũng không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hóa thân.

Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thủy, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khỏa, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đá lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thủy tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hóa thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều không khiêng nổi.

Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định đi sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hóa phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.

Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.

Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái. Sau đó Thiên Y A Na tự tạc tượng mình bằng khúc gỗ trầm dựng trên núi Cù Lao, rồi cùng hai con ra đi. Về sau, dân chúng xứ này đem tượng đó vào miếu để thờ.

Thái tử biển Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa. Chỉ biết rằng Bà rất linh ứng. Người ta đồn rằng Thiên Y A Na lúc thì cưỡi voi trắng dạo chơi trên đỉnh núi, lúc thì hiện thành hình tấm lụa trắng bay trên không trung, có lúc lại cưỡi cá sấu qua lại giữa Cù Lao và Hòn Yến. Trước mỗi lần Bà hiển linh như vậy, thường có mấy tiếng nổ to như sấm, tiếp đến, hào quang rực sáng cả một vùng.

Nhân dân địa phương nhớ công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão Tiều phu, cha mẹ nuôi, cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.

a. Vì sao Thiên Y A Na được dân trong vùng tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?

b. Những đặc điểm nào ở nhân vật Thiên Y A Na trong VB trên giúp em nhận biết đó là nhân vật truyền thuyết?

c. Theo em, về cốt truyện, truyền thuyết về Ngọc Bà Thiên Y A Na đã thể hiện những đặc điểm nào của cốt truyện truyền thuyết?

d.Tìm một số dẫn chứng cho thấy truyện có sử dụng yếu tố kì ảo và cho biết tác dụng của chúng trong VB trên?

đ. Văn bản trên tuy không sử dụng lời của nhân vật, nhưng đặc điểm của các nhân vật vẫn được thể hiện rõ? Vì sao?

Xem lời giải >>

Bài 23 :

Hoàn thành bảng sau để so sánh đặc điểm cốt truyện truyền thuyết và cốt truyện cổ tích.

 

Cốt truyện truyền thuyết

Cốt truyện cổ tích

Điềm giống nhau

 

Điểm khác nhau

 

 

Xem lời giải >>

Bài 24 :

Đặc điểm nào sau đây là của nhân vật cổ tích?

a. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn với cộng đồng.

b. Thường thuộc kiểu nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ, nhân vật thông minh,...

c. Thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân hoá.

d. Thường được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ.

Xem lời giải >>

Bài 25 :

Nối các khái niệm ở cột A với nội dung khái niệm tương ứng ở cột B.

A (các khái niệm)

B (Nội dung khái niệm)

1. Đề tài

a. Là phần lời người kể dùng để thuật lại một sự việc cụ thể hay giới thiệu, miêu tả khung cảnh, con người, sự vật…

2. Chủ đề

b. Là lời nói trực tiếp của các nhân vật trong truyện

3. Người kể chuyện

c. Là vấn đề chính mà VB nêu lên qua một hiện tượng đời sống

4. Lời của người kể chuyện

d. Là hiện tượng đời sống được miêu tả, thể hiện qua VB

5. Lời của nhân vật

đ. Là vai do tác giả tạo ra để kể các sự việc

Xem lời giải >>

Bài 26 :

Đọc truyện Sọ Dừa (SGK Ngữ văn 6, tập một) và tóm tắt thành một VB ngắn gọn.

Xem lời giải >>

Bài 27 :

Trong truyện Em bé thông minh (SGK Ngữ văn 6, tập một), em vé đã vượt qua những thử thách nào? Các thử thách ấy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện phẩm chất của nhân vật em bé thông minh?

Xem lời giải >>

Bài 28 :

Theo em, chủ đề của truyện Em bé thông minh (SGK Ngữ văn 6, tập một) là gì?

Xem lời giải >>

Bài 29 :

Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi:

                                                                          HÀ RẦM HÀ RẠC

Ngày xưa, ở một nhà nọ có hai anh em sống với nhau. Cha mẹ họ mất sớm, để lại một gia sản cũng vào hạng khá trong vùng. Ít lâu sau, người anh lấy vợ. 

Anh bảo em:

- Bây giờ đã đến lúc phải chia gia tài ra để cho mày học ăn học làm với người ta.

Đến ngày chia của, anh chìa ra một tờ giấy, bảo em:

- Của cải của cha mẹ để lại có ba giống: giống đực, giống cái và giống con. Mày bé bỏng nên tao nhường cho mày tất cả những đồ đạc giống đực, còn giống cái và giống con thì phần tao, nghe chưa? Nếu mày bằng lòng thì kí vào đây!

Em ngây thơ tưởng là anh thương mình thật nên không nghi ngờ gì cả, ký ngay vào giấy. Cuộc chia của bắt đầu. Nhưng đồ vật nào mà chả gọi là “cái” hay là “con”. Người anh đếm mãi:

- Cái nhà này: của tao, con trâu này: của tao, cái chum này: của tao, cái cày, cái búa này: của tao…

Suốt từ sáng đến chiều, những của chìm của nổi chia đã sắp vợi đi mà vẫn chưa có một vật nào thuộc giống đực cả. Mãi đến lúc trời đã tối, người em tức mình mới chụp lấy một cây dao rựa dựng ở bờ hè mà nói rằng:

- Đây là “đực rựa” thuộc về phần tôi!

Nói xong, người em vác rựa lùi lũi đi ra giữa lúc người anh cười ha hà vì thấy mưu kế của mình đã đạt.

Từ đây, người em ngày ngày vác rựa vào rừng chặt củi làm kế sinh nhai. Vì không có nhà ở nên anh ta phải ăn nhờ ở đậu hết nhà người bà con này qua người quen khác. Có hôm phải năm đình nằm chùa, ngủ câu ngủ quán như kẻ cầu bơ cầu bất. Mặc dù khổ như vậy nhưng anh vẫn chăm chỉ làm ăn đề khỏi phải ngửa tay ăn xin mọi người.

Một hôm, trăng non vừa mọc, anh đang ngủ say tỉnh dậy tưởng trời đã sáng, bèn vớ lấy rựa đi miết lên rừng. Đến cửa rừng mới hay là mình nhầm: trời vẫn còn khuya. Anh bèn nằm duỗi chân dưới một gốc cổ thụ đợi sáng, nhưng bỗng dưng ngủ quên lúc nào không hay. Anh chàng không ngờ rằng nơi đây là chốn chơi đùa của một bầy khỉ. Hôm ấy chúng cũng kéo nhau đến đây, nhưng khi thấy dưới gốc cây có một người lạ nằm thẳng đuỗn thì tưởng là một thây người; chúng bèn xúm nhau khiêng đi chôn đề lây chỗ nhảy nhót. Đang đi, anh chàng bỗng tỉnh giấc, toan la lên, nhưng thấy chuyện hay hay, nên cứ nằm im xem bọn khỉ khiêng mình đi đến đâu. Hỏi lâu, anh nghe bầy khỉ dừng lại nói với nhau: 

- Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!

Nhưng trong bầy khỉ có một con khỉ đột đứng đầu, bảo chúng:

- Hà rầm hà rạc, chôn vào hố vàng, không chôn hố bạc!

Thế là bầy khỉ lại tiếp tục khiêng anh tới một chỗ khác xa hơn. Đến nơi, chúng đặt anh xuống, rồi kéo nhau trở về gốc cổ thụ. Anh chàng nhìn thấy xung quanh mình có những cục vàng sáng chói thì mừng lắm, bèn chờ cho chúng đi khuất mới đứng đậy nhặt đầy túi mang về. Từ khi trở nên giàu có, anh chàng hết làm nhà cửa lại tậu ruộng vườn, nuôi trâu bò, cuộc đời muôn phần tươi hơn trước.

Câu chuyện một người tiều phu lên núi bắt được vàng từ đó lan đi khắp nơi. Người anh nghe nói nửa tin nửa ngờ. Một hôm vào ngày giỗ cha, hắn thấy em mình tìm đến mời về nhà ăn giỗ. Hắn vội vã nhận lời. Bước vào nhà em, người anh không giấu được kinh ngạc:

- Từ dạo ấy đến giờ chú mày làm thế nào mà phát tài dữ vậy?

Người em vui vẻ kể tỉ mỉ cho anh nghe câu chuyện lên rừng gặp khi, và từ hố bạc tình cờ được chúng chuyển sang hố vàng. Nghe xong, người anh mượn ngay cây rựa, và cũng chờ một đêm trăng non, một minh vác rựa lên cửa rừng. Hắn ta cũng giả vờ duỗi chân nằm dưới gốc cổ thụ nọ. Lát sau, quả nhiên có một bầy khỉ đến nhảy nhót xung quanh góc cây. Khi thấy có người lạ nằm choán chỗ chúng vui đùa, chúng cũng xúm lại khiêng đi chôn, vì tưởng rằng đó là một cái thây người chết. Nhưng đến lúc nghe bầy khỉ nói: “Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!” thì hắn vội ngửng đầu cãi lại:

- Chôn vào hố vàng chứ! Chôn vào hố vàng chứ!

Bầy khỉ không ngờ cái thây người vẫn còn sống, cuống cuồng quẳng hắn xuống rồi bỏ chạy. Hắn bị lăn xuống sườn núi, đầu va vào đá, vỡ sọ chết.

(Theo Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, Viện Văn học xuất bản, 1993)

a. Truyện này kể về kiểu nhân vật nào? Vì sao em lại xác định như vậy?

b. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Những từ ngữ nào cho em biết điều đó? Việc sử dụng ngôi kể đó có tác dụng gì?

c. Trong đoạn văn sau đây, đâu là lời của người kể chuyện, đâu là lời của nhân vật?

Người em vui vẻ kể tỉ mỉ cho anh nghe câu chuyện lên rừng gặp khi, và từ hố bạc tình cờ được chúng chuyển sang hố vàng. Nghe xong, người anh mượn ngay cây rựa, và cũng chờ một đêm trăng non, một mình vác rựa lên cửa rừng. Hắn ta cũng giả vờ duỗi chân nằm dưới gốc cổ thụ nọ. Lát sau, quả nhiên có một bầy khỉ đến nhảy nhót xung quanh góc cây. Khi thấy có người lạ nằm choán chỗ chúng vui đùa, chúng cũng xúm lại khiêng đi chôn, vì tưởng rằng đó là một cái thây người chết. Nhưng đến lúc nghe bầy khỉ nói: “Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!” thì hắn vội ngửng đầu cãi lại:

- Chôn vào hố vàng chứ! Chôn vào hố vàng chứ!

d. Liệt kê vào bảng sau những hành động của người em và người anh ở từng sự việc:

Sự việc

Người em

Người anh

Phân chia tài sản

 

 

Lên rừng và gặp bầy khỉ

 

 

Qua hành động trên, em hiểu được gì về phẩm chất của nhân vật người em và người anh?

đ. Liệt kê các yếu tố kì ảo trong truyện. Các yếu tố này có vai trò gì đối với số phận của nhân vật người em?

e. Sắp xếp các sự việc sau theo đúng trình tự xảy ra trong truyện bằng cách điền các chữ số vào sơ đồ:

(1) Người anh lấy tất cả tài sản. Người em chỉ có cái rựa.

(2) Một hôm, người em lên rừng gặp bầy khỉ và trở nên giàu có.

(3) Xưa, ở gia đình nọ, cha mẹ mất sớm để lại một gia sản khá lớn cho hai anh em.

(4) Người em không có nhà cửa, ruộng vườn nhưng rất chăm chỉ làm ăn.

(5) Người anh nghe kể sự tình, lập tức bắt chước người em lên rừng tìm gặp bầy khỉ và bị quẳng xuống vực sâu.

(6) Ít lâu sau, người anh lấy vợ. Cuộc phân chia tài sản diễn ra.

g. Dựa vào sơ đồ trên, em hãy kể tóm tắt câu chuyện.

h. Theo em, chủ đề của truyện này là gì?

i. Em thích nhất chi tiết nào trong truyện này? Vì sao?

k. Em có suy nghĩ gì về kết thúc của câu chuyện?

Xem lời giải >>

Bài 30 :

Chọn câu trả lời đúng để điền vào những chỗ trống trong đoạn văn sau:

Về cách gieo vần thông thường của một cặp câu lục bát, tiếng thứ (1) ...... của dòng lục vần với tiếng thứ (2) ...... của dòng bát kế nó, tiếng thứ (3) ...... dòng bát vần với tiếng thứ (4) ...... của dòng lục tiếp theo.

a. (1) sáu - (2) tư - (3) tám - (4) sáu

b. (1) sáu – (2) tám - (3) sáu - (4) sáu

c. (1) sáu - (2) sáu - (3) tám - (4) sáu

đ. (1) sáu - (2) tư - (3) tám - (4) sáu

Xem lời giải >>