Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
(…) Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay.
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khỏang rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. (…)
Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm. Tuy bác hết sức công bằng, người ta cũng thấy bác yêu thằng Hi hơn cả, nó là con thứ chín, và ốm yếu xanh xao nhất nhà. Bác thường bế nó lên lòng, hôn hít, rồi khoe với hàng xóm: nội cả nhà chỉ có nó là giống thầy cháu như đúc. Rồi bác ôm con ngồi lặng yên một lát, như để nhớ lại chuyện gì đã lâu lắm.
(Trích truyện ngắn Nhà mẹ Lê – Thạch Lam – NXB Hội Nhà văn 2008)
Chú thích:
– Thạch Lam (1910-1942), tên thật là Nguyễn Tường Vinh sau đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Là cây bút truyện ngắn tài hoa trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Sáng tác thường hướng vào cuộc sống cơ cực của những người dân thành thị nghèo và vẻ đẹp nên thơ của cuộc sống thường nhật.
– “Nhà mẹ Lê” là tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc được xuất bản lần đầu năm 1942. Truyện ngắn không chỉ tái hiện tình cảm mẹ con xúc động mà còn dựng nên cả bức tranh toàn cảnh làng quê Việt Nam Cách mạng tháng Tám.
Xác định ngôi kể trong đoạn trích.
Xác định ngôi kể trong đoạn trích.
- Đọc đoạn trích, tìm các từ xưng hô/đại từ: “tôi”, “ta”, “chúng tôi” hay “bác Lê”, “mẹ con bác ta”, “nó”, “chúng nó”…
- Xác định người kể có tham gia câu chuyện không.
Ngôi thứ ba.
Giải thích:
Đoạn trích kể về nhân vật bằng cách gọi tên “bác Lê”, “mẹ con bác ta”, “chúng nó”, “nó” chứ không dùng “tôi”. Người kể đứng ngoài quan sát và thuật lại cuộc sống gia đình bác Lê ⇒ ngôi kể thứ ba.
- Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng để kể chuyện.
- Phân biệt:
+ Ngôi kể thứ nhất, khi tự xưng “tôi”, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra những cảm tưởng, ý nghĩ của mình.
+ Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.
Link tham khảo: Lời người kể chuyện

Trong đoạn trích, ngoại hình nhân vật bác Lê được miêu tả qua các chi tiết nào?
Trong đoạn trích, ngoại hình nhân vật bác Lê được miêu tả qua các chi tiết nào?
- Đọc đoạn: “Bác Lê là một người đàn bà…”, chú ý các từ ngữ miêu tả dáng người – da – mặt – chân tay.
- Gạch chân chi tiết và chép đúng theo văn bản
Ngoại hình bác Lê: Chắc chắn, thấp bé; da mặt và chân tay răn reo như quả trám khô.
Giải thích:
Ngoại hình bác Lê được miêu tả qua các chi tiết: “chắc chắn và thấp bé”, “da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô”
Đặc điểm nhân vật là những nét riêng của nhân vật trong truyện, thường được thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ,…
Link tham khảo: Đặc điểm nhân vật trong truyện
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” để làm sáng tỏ chủ đề của câu chuyện..
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn “Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết” để làm sáng tỏ chủ đề của câu chuyện..
- Tìm từ so sánh: “như”.
- Xác định 2 vế so sánh: A được so với B.
- Nêu tác dụng theo 2 hướng: gợi hình – gợi cảm và làm nổi bật nội dung/chủ đề
- BPTT so sánh: “thịt chúng nó thâm tím lại vì rét” với “thịt con trâu chết”.
- Tác dụng:
+ Làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu sức gợi hình, gợi cảm.
+ Khắc sâu sự nghèo khổ, tội nghiệp, đáng thương của những đứa trẻ trong gia đình bác Lê.
+ Tác giả thể hiện lòng đồng cảm, yêu thương, sẻ chia với những đứa trẻ con nhà nghèo.
Giải thích:
Biện pháp so sánh: so sánh “thịt chúng nó thâm tím lại vì rét” với “thịt con trâu chết” khiến người đọc hình dung rõ cái rét làm da thịt trẻ nhỏ tím tái, tê buốt; so với “thịt con trâu chết” là hình ảnh rất cực đoan, đau xót → cho thấy các em bị hành hạ bởi nghèo đói. Qua đó, tác giả bộc lộ tình thương, lòng trắc ẩn và đồng cảm sâu sắc với người nghèo, góp phần làm rõ chủ đề hiện thực: cuộc sống cơ cực của dân nghèo.
- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.
- Cấu trúc hoàn chỉnh phép so sánh: SV1 + PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH + TỪ NGỮ SO SÁNH + SV2
- Dấu hiệu nhận biết các kiểu so sánh:
+ So sánh ngang bằng: như, là, bằng, tựa,...
+ So sánh không ngang bằng: chưa bằng, chẳng bằng, hơn, kém,..
Khi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong một ngữ liệu đã cho, ta cần chỉ ra ít nhất 2 tác dụng dựa vào gợi ý sau:
+ Tác dụng nghệ thuật: giúp cho câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm,...
+ Tác dụng nội dung: Nhấn mạnh/ Làm nổi bật đối tượng hoặc đặc điểm nào của đối tượng?
+ Tác dụng biểu cảm: Tác giả bày tỏ thái độ, tình cảm, cảm xúc gì về đối tượng? Tác giả khơi gợi cho người đọc cảm xúc gì?
Link tham khảo: Biện pháp so sánh
Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì đối với gia đình bác Lê?
Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì đối với gia đình bác Lê?
- Chú ý đoạn: “Chừng ấy người chen chúc…” và “Nhưng mọi người biết bác Lê quí con lắm…”
- Tìm các chi tiết miêu tả cuộc sống nghèo khổ: nhà lụp xụp, chen chúc, ổ rơm, đói rét…
- Nhận xét giọng văn: xót xa, thương cảm hay lạnh lùng?
- Tìm chi tiết thể hiện tình mẹ: “quí con lắm”, “bế… hôn hít…”.
- Khái quát thái độ của tác giả.
Đồng cảm, xót xa; ca ngợi tình mẫu tử, lên án tội ác thực dân phát xít.
Giải thích:
Tác giả thể hiện đồng cảm, xót xa cho hoàn cảnh khốn khó của mẹ con bác Lê qua hàng loạt hình ảnh thương tâm: nhà chật chội, ổ rơm như “ổ chó”, con cái đói rét tím tái… Đồng thời, tác giả còn ca ngợi tình mẫu tử vì dù nghèo khổ, bác Lê vẫn yêu con hết mực, “bế lên lòng, hôn hít”.
Từ câu chuyện về nhà mẹ Lê, em rút ra bài học gì có ý nghĩa nhất đối với bản thân?
Từ câu chuyện về nhà mẹ Lê, em rút ra bài học gì có ý nghĩa nhất đối với bản thân?
- Xác định thông điệp chính: nghèo khổ nhưng giàu tình thương.
- Rút ra bài học gắn với bản thân: thái độ sống, cách cư xử trong gia đình.
Bài học: Cần biết yêu thương, chia sẻ, trân trọng gia đình. Gia đình là nơi gắn kết yêu thương, là chỗ dựa tinh thần quý giá nhất.
Giải thích:
Gia đình bác Lê tuy nghèo khổ nhưng vẫn tràn ngập tình yêu thương. Điều này nhắc nhở mỗi người về giá trị của sự gắn bó, sẻ chia trong gia đình, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.







Danh sách bình luận