Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ SÓNG THẦN?
Khái niệm và đặc điểm
Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tờ-su-na-mi(tsunami), là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn. Tuỳ theo độ sâu của đáy biển, vận tốc lan truyền sóng thần có thể đạt từ 720 km/giờ trở lên. Khi vào bờ, sóng thần có sức tàn phá rất ghê gớm.
Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thê mục kích* 2 và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết khi nào sóng thần bắt đầu xuất hiện. [...]. Do đó, bạn khó có thể nhận thấy dấu hiệu báo trước của một đợt sóng thần. Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.
Khi sóng thần được tạo ra ở ngoài khơi xa, sóng còn rất nhỏ và yếu vì nước quá sâu nhưng đó là một chuỗi sóng có tốc độ rất cao, lên đến 800 km/giờ... Khi sóng thần dịch chuyển trên đại dương, chiều dài từ chóp sóng trước đến chóp sóng sau có thể cách xa hàng trăm ki-lô-mét hoặc hơn và độ cao chóp sóng chỉ khoảng vài mét. Do vậy, người ta không thể thấy dấu hiệu rõ ràng của sóng thần. Nói cách khác, sóng thần không phải là sự di chuyển của bề mặt sóng mà là toàn bộ khối nước. Sóng thần chỉ thật sự hiện nguyên hình với sức mạnh huỷ diệt kinh hoàng khi nó đến gần bờ. Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30 m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Li-tu-y-a(Lituya)* 2, A-lát-xca (Alaska)3 vào năm 1958 cao đến 525 m).
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra sóng thần chủ yếu do động đất, ngoài ra còn do núi lửa phun trào, lở đất và các vụ nổ dưới đáy biển (kể cả các vụ thử hạt nhân dưới nước)... Thảm họa sóng thần chấn động ngày 26/12/2004 là hệ quả của một trận động đất xảy ra do va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Bơ-ma (Burma), sau khi mảng Bơ-ma bất ngờ trôi lên, cao hơn mảng Ấn Độ. Đó là trận động đất cực mạnh với 9 độ rích-te (richter)1, lớn nhất trong bốn thập niên kể từ trận động đất Gút Phrai-đây (Good Friday)* 2 9,2 độ rích-te tấn công A-lát-xca vào năm 1964 và là trận lớn thứ tư kể từ năm 1900. Trận động đất lớn đến mức lan sang tận Xô-ma-li-a (Somalia)3, cách tâm chấn 4100 km. Tâm chấn động đất ở độ sâu 10 km, cách tây Su-ma-tra (Sumatra)4 khoảng 160 km, nằm trong khu vực “vòng đai lửa châu Á - Thái Bình Dương”.
Dấu hiệu sắp có sóng thần
Những người trên bờ biển khó biết sóng thần sắp tiến về phía mình. Dấu hiệu đầu tiên là nước biển chậm chạp cuộn lên với những con sóng khổng lồ, chứ không như sóng mạnh của một cơn bão sắp tới. Bỗng nhiên, mặt biển dao động nhiều hơn bình thường, sau đó nhiều bọt biển nổi lên, nước rút xuống nhanh và bất ngờ trong khoảng thời gian không phải thuỷ triều. Hoặc bạn có thể cảm thấy nước trong từng đợt sóng nóng bất thường và nghe thấy những âm thanh lạ... Do vậy, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, bạn hãy thông báo cho mọi người xung quanh biết là sắp có sóng thần và di chuyển nhanh khỏi bãi biển, đến vùng cao hơn để trú ẩn trước khi sóng thần đến.
Các thảm họa sóng thần trong lịch sử
Sóng thần đã được nhắc đến từ thời thượng cổ. Năm 365, sóng thần tại A-lếch-xan-dri-a (Alexandria)5 làm hàng nghìn người thiệt mạng. Sóng thần tai hại nhất trong lịch sử loài người xảy ra vào ngày 27/8/1883, sau khi núi lửa Kra-ca-tô-a (Krakatoa)6 tại In-đô-nê-xi-a phun trào khiến 36 000 người thiệt mạng trên bờ biển Gia-va (Java)7 và Su-ma-tra. Ngày 15/6/1896, sóng thần cao 23 m làm hơn 26 000 người thiệt mạng trong một lễ hội tôn giáo ở Nhật Bản. Ngày 22/5/1960, sóng thần cao 11 m làm hơn 1 000 người thiệt mạng tại Chi-lê (Chile)8. Ngày 16/8/1976, hơn 5 000 người chết tại vịnh Mo-ro (Moro), Phi-líp-pin (Philippines) vì sóng thần. Ngày 17/7/1998, sóng thần làm hơn 2 100 người chết tại Pa-pua Niu Ghi-nê (Papua New Guinea)
(Theo Một số kiến thức về sóng thần, https://nhandan.vn, ngày 16/3/2022)
Xác định thể loại của văn bản “Bạn đã biết gì về sóng thần”?
- Dựa vào đặc điểm văn bản: cung cấp thông tin, có số liệu, giải thích hiện tượng.
- Xác định mục đích chính là thông tin chứ không phải kể chuyện hay biểu cảm
Thể loại: văn bản thông tin
Giải thích:
Văn bản trình bày khái niệm, nguyên nhân, dấu hiệu… của sóng thần nên thuộc văn bản thông tin. Loại văn bản này nhằm cung cấp tri thức khoa học cho người đọc.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin

Mục đích chính của văn bản trên là gì?
- Đọc toàn văn, xác định nội dung chính được lặp lại.
- Từ đó rút ra mục đích chung của văn bản.
Mục đích: cung cấp kiến thức khoa học và cảnh báo về mực độ nguy hiểm của sóng thần, giúp người đọc nâng cao nhận thức và ý thức phòng tránh
Giải thích:
Văn bản nhằm cung cấp kiến thức về sóng thần và cảnh báo mức độ nguy hiểm. Qua đó giúp người đọc nâng cao nhận thức và ý thức phòng tránh thiên tai.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Tìm thành phần biệt lập trong câu văn sau và xác định đó là loại thành phần biệt lập nào: “Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.”
- Tìm các từ thể hiện thái độ, mức độ chắc chắn của người nói.
- Xác định loại thành phần biệt lập tương ứng.
Thành phần tình thái: "Có thể".
Dùng để thể hiện thái độ không chắc chắn của người nói về sự việ được nêu.
Giải thích:
Từ “có thể” là thành phần tình thái, thể hiện sự phỏng đoán, chưa chắc chắn. Nó cho thấy người viết không khẳng định tuyệt đối nguyên nhân sự việc.
- Thành phần biệt lập là thành phần phụ có tính độc lập với nòng cốt câu, không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc của câu.
- Thành phần biệt lập gồm:
+ Thành phần phụ chú: bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu, thường được tách biệt bằng dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm.
+ Thành phần gọi - đáp: gọi đáp, tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.
+ Thành phần cảm thán: diễn tả cảm xúc của người nói.
+ Thành phần tình thái: diễn tả thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu
Link tham khảo: Thành phần biệt lập là gì? Phân loại thành phần biệt lập
Theo tác giả, những dấu hiệu nào báo sắp có sóng thần?
- Tìm thông tin trong phần “Dấu hiệu sắp có sóng thần”.
- Liệt kê các dấu hiệu được nêu trong văn bản.
Những dấu hiệu báo sắp có sóng thần theo tác giả:
- Nước biển chậm chạp cuộn lên với những con sóng không đổ.
- Mặt biển dao động mạnh hơn bình thường.
- Nhiều bọt biển nổi lên.
- Nước rút xuống nhanh và bất ngờ trong khoảng thời gian không phải thuỷ triều.
- Nước trong từng đợt sóng nóng bất thường và nghe thấy những âm thanh lạ
Giải thích:
Các dấu hiệu như nước biển rút nhanh, mặt biển dao động mạnh, xuất hiện bọt biển, nước nóng bất thường… giúp cảnh báo nguy cơ sóng thần. Đây là những biểu hiện bất thường của biển trước khi sóng thần xảy ra.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Giả sử, em đang ở vùng có nguy cơ xảy ra hiện tượng sóng thần. Em hãy đề xuất những giải pháp để giúp người dân trong khu vực này phòng tránh tác hại của sóng thần
Liên hệ thực tế, nêu suy nghĩ của bản thân
Đề xuất giải pháp cụ thể, thiết thực.
Giải pháp giúp người dân phòng tránh tác hại của sóng thần:
- Nâng cao nhận thức cho người dân về dấu hiệu và mức độ nguy hiểm của sóng thần.
- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và hướng dẫn sơ tán kịp thời.
- Khi thấy nước biển rút nhanh bất thường, cần nhanh chóng rời khỏi bãi biển, di chuyển lên vùng cao an toàn.
- Tổ chức diễn tập phòng chống thiên tai định kì cho người dân.
- Quy hoạch khu dân cư hợp lí, hạn chế xây dựng ở những vùng ven biển có nguy cơ cao.
Giải thích:
Cần nâng cao nhận thức, xây dựng hệ thống cảnh báo, nhanh chóng di chuyển lên vùng cao khi có dấu hiệu nguy hiểm.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?
Xác định từ tượng thanh và từ tượng hình trong câu văn sau: “Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thể mục kích và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa”
- Nhận diện từ tượng thanh (mô phỏng âm thanh) và tượng hình (gợi hình ảnh).
- Dựa vào đặc điểm âm thanh và hình ảnh gợi tả.
- Từ tượng thanh: “ầm ầm”.
- Từ tượng hình: “cuồn cuộn”
Giải thích:
“Ầm ầm” là từ tượng thanh gợi âm thanh mạnh của sóng.
“Cuồn cuộn” là từ tượng hình gợi hình ảnh sóng chuyển động dữ dội.
- Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ của sự vật, chẳng hạn: gập ghềnh, khẳng khiu, lom khom,…
- Từ tượng hình có tác dụng:
+ Làm tăng tính biểu cảm, biểu đạt của ngôn ngữ và làm miêu tả trở nên cụ thể và sinh động hơn. Vì đa số từ tượng hình đều là từ láy.
+ Giúp khả năng miêu tả, diễn tả cảnh vật, con người, thiên nhiên chi tiết, thực tế và đa dạng.
- Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh trong thực tế, chẳng hạn: khúc khích, róc rách, tích tắc…
- Tác dụng của từ tượng thanh: Mang giá trị biểu cảm cao; có tác dụng gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, âm thanh một cách sinh động cụ thể; thường được sử dụng trong các sáng tác văn chương và lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Link tham khảo:
Theo tác giả, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, chúng ta nên làm gì?
- Xác định thông tin ở đoạn hướng dẫn ứng phó.
- Trình bày lại hành động cần làm.
Theo tác giả, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, chúng ta nên làm: thông báo cho mọi người xung quanh, di chuyển nhanh khỏi bãi biển, đến vùng cao hơn để trú ẩn
Giải thích:
Khi thấy nước biển rút nhanh, cần báo cho mọi người và di chuyển lên vùng cao. Đây là cách tránh nguy hiểm kịp thời trước khi sóng thần ập đến.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Xác định thành phần phụ chú trong câu văn sau: “Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tsunami, là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn”
- Xác định phần chú thích bổ sung nằm trong câu.
- Chú ý đoạn đặt trong ngoặc đơn hoặc dấu phẩy giải thích.
Thành phần phụ chú trong câu văn sau: là phần từ ngữ nằm trong ngoặc đơn:(từ vài phút tới hàng giờ), làm rõ nghĩa cho phần câu là chuỗi sóng biển chu kì dài
Giải thích:
Cụm “(từ vài phút tới hàng giờ)” là thành phần phụ chú. Nó bổ sung thông tin làm rõ chu kì của sóng thần.
- Thành phần biệt lập là thành phần phụ có tính độc lập với nòng cốt câu, không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc của câu.
- Thành phần biệt lập gồm:
+ Thành phần phụ chú: bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu, thường được tách biệt bằng dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm.
+ Thành phần gọi - đáp: gọi đáp, tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.
+ Thành phần cảm thán: diễn tả cảm xúc của người nói.
+ Thành phần tình thái: diễn tả thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu
Link tham khảo: Thành phần biệt lập là gì? Phân loại thành phần biệt lập
Phân tích tác dụng việc sử dụng số liệu trong câu văn: “Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Lytuya, Alaska vào năm 1958 cao đến 525m)”
- Xác định các số liệu cụ thể trong câu.
- Nêu tác dụng về tính chính xác và thuyết phục.
- Số liệu: 30m, năm 1958 cao đến 525m
-Tác dụng:
+ Làm cho thông tin về độ cao của sóng thần cụ thể, dễ hiểu, rõ ràng, làm tăng sức thuyết phục, hấp dẫn, gợi sự tò mò của người đọc.
+Góp phần khẳng định cơ chế hoạt động bất thường và sự nguy hiểm của sóng thần. Từ đó giúp người đọc có những thông tin hữu ích cho bản thân.
Giải thích:
Các số liệu “30m”, “525m” giúp thông tin cụ thể, rõ ràng và đáng tin cậy. Đồng thời nhấn mạnh mức độ nguy hiểm, sức tàn phá khủng khiếp của sóng thần.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Nêu nội dung bao quát của văn bản trên
Cung cấp thông tin cơ bản về sóng thần: định nghĩa, cơ chế, nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết
Giải thích:
Văn bản cung cấp kiến thức về sóng thần: khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và hậu quả
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Anh/Chị rút ra bài học gì sau khi đọc văn bản?
- Rút ra bài học từ nội dung văn bản.
- Lí giải ngắn gọn ý nghĩa thực tế.
- Chúng ta cần tích cực tìm hiểu, lí giải các hiện tượng tự nhiên để phòng tránh.
- Lí giải:
+ Thiên nhiên còn rất nhiều bí ẩn mà con người chưa tìm hiểu cũng như chế ngự được.
+ Tìm hiểu sẽ giúp chúng ta chủ động, bình tĩnh, kịp thời tìm ra phương án tối ưu để giúp mình, giúp mọi người xung quanh
+…
Giải thích:
Cần chủ động tìm hiểu kiến thức về thiên tai để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Hiểu biết sẽ giúp con người bình tĩnh, ứng phó kịp thời và giảm thiểu thiệt hại.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Bối cảnh truyện Cô bé bán diêm diến ra khi nào?
Đêm noel
Đêm giao thừa
Sinh nhật cô bé
Giỗ bà ngoại
Bài 2 :
Tác phẩm Hai cây phong thuộc thể loại gì?
Tiểu thuyết
Truyện vừa
Tùy bút
Ký sự
Bài 3 :
Trong mạch kể của người kể chuyện xưng “chúng tôi”, các sự việc được kể và tả lại ứng với khoảng thời gian nào trong cuộc đời của người kể chuyện?
Trong một lần người kể chuyện đi công tác xa trở về
Vào năm học cuối cùng, trước khi bắt đầu nghỉ hè
Khi người kể chuyện đi xe lửa qua làng
Khi người kể chuyện từ trường học trở về làng Ku – ku – rêu.
Bài 4 :
Tên khai sinh của Thế Lữ là gì?
Nguyễn Sen
Nguyễn Tuân
Nguyễn Huy Tưởng
Nguyễn Thứ Lễ
Bài 5 :
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng ở văn bản Bàn luận về phép học ?
Tự sự
Biểu cảm
Nghị luận
Thuyết minh
Bài 6 :
Đâu không phải là sáng tác của Ngô Tất Tố?
Tắt đèn
Lều chõng
Bước đường cùng
Việc làng
Bài 7 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thời gian là vàng
Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng”. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian thì không mua được. Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian thì vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất cơ hội là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau có hối cũng không kịp.
﴾Theo Phương Liên﴿
Bài 8 :
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Tôi được tặng một chiếc xe đạp leo núi rất đẹp nhân dịp sinh nhật của mình. Trong một lần tôi đạp xe ra công viên chơi, một cậu bé cứ quẩn quanh ngắm nhìn chiếc xe với vẻ thích thú và ngưỡng mộ thực sự.
- Chiếc xe này của bạn đấy à? . Cậu bé hỏi.
- Anh mình đã tặng nhân dịp sinh nhật của mình đấy. Tôi trả lời, không giấu vẻ tự hào và mãn nguyện.
- Ồ, ước gì tôi... Cậu bé ngập ngừng.
Dĩ nhiên là tôi biết cậu bé đang nghĩ gì rồi. Chắc chắn cậu ấy ước ao có được một người anh như thế. Nhưng câu nói tiếp theo của cậu bé hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của tôi.
- Ước gì tôi có thể trở thành một người anh như thế! . Cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm. Sau đó, cậu đi về phía chiếc ghế đá sau lưng tôi, nơi một đứa em trai nhỏ tật nguyền đang ngồi và nói:
- Đến sinh nhật nào đó của em, anh sẽ mua tặng em chiếc xe lăn nhé.
(“Hạt giống tâm hồn”, tập 4, nhiều tác giả. NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)
Bài 9 :
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Một người nuôi trai lấy ngọc luôn suy nghĩ làm thế nào để tạo được viên ngọc trai tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Ông ra bãi biển để chọn một hạt cát. Để chọn được một hạt cát theo ý muốn, ông đã hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không. Các hạt cát lắc đầu nguầy nguậy khiến ông sắp tuyệt vọng.
Đang lúc đó có một hạt cát đồng ý. Các hạt cát khác đều giễu nó ngốc, chui đầu vào trong vỏ trai, xa lánh người thân, bạn bè, không thấy ánh sáng mặt trời trăng sao, gió mát, thậm chí thiếu cả không khí, chỉ có bóng tối ướt lạnh, cô đơn, rất đau khổ, thử hỏi có đáng không? Nhưng hạt cát vẫn theo người nuôi trai về không một chút oán than.
Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…
(Qùa tặng cuộc sống)
Bài 10 :
Tục ngữ là gì?
Bài 11 :
Về nội dung, tục ngữ thể hiện điều gì?
Bài 12 :
Về hình thức, tục ngữ có các đặc điểm gì?
Bài 13 :
Bốn cặp câu thơ thường tương ứng với những phần nào?
Bài 14 :
Mỗi câu của bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường có mấy chữ?
Bài 15 :
Thơ sáu chữ, bảy chữ là thể thơ như thế nào?
Bài 16 :
Hãy nêu điểm giống và khác nhau giữa thơ sáu chữ và thơ bảy chữ.
Bài 17 :
Nối khái niệm ở cột A với đặc điểm tương ứng ở cột B:

Bài 18 :
Vần liền, vần cách nằm trong nhóm vần chân hay vần lưng?
Bài 19 :
Hãy xác định bố cục của bài thơ Mây và sóng (Ta-go). Từ đó, xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ này.
Bài 20 :
Trong khổ thơ sau, nhà thơ đã sử dụng loại vần nào?
“Đầu những hồn thân tự thuở xưa
Những hồn quen dài gió dầm mưa
Những hỗn chất phác hiện như đất
Khoai sẵn tinh quê rất thiệt thà.”
(Tố Hữu, Nhớ đồng)
Bài 21 :
Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CHÍN CON RỒNG NHỎ BAY LÊN
Trần Quốc Toàn
Ghe ngon vừa nghe trống lện
Vẫy gió một trăm khăn hồng
Một trăm mái chèo khuấy nước
Bay lên chín con sông rồng.
Bay lên sông mẹ nghìn giọt
Đi tìm Sóc Trăng đồng chua
Đi tìm Trà Vinh đất khát
Chúng em thay trời làm mưa.
Giọt giọt mồ hôi mặn chát.
Đã ngọt trong cơn mưa vui
Mái dầm thiếu nhi thọc lét
Sông cười sóng reo thành lời.
Sáng nay ghe ngo vào hội
Mặt sông Cửu Long sáng ngời
Nhịp xuân tay đua gắng gỏi
Ghe ngo nối đất với trời...
(In trong Bữa tiệc của loài vật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008)
Bài 22 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
VỚI CON
Vũ Quần Phương
1. Bồng bồng!
Bố bồng con trên tay
Buổi chiều nay, buổi chiều nay
Khói hàng xóm bay là trên bếp
Sau trận mưa trời mát hơi may.
2. Bố bế con ra ngoài mái hiên
Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn
Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!
Cây giữa vườn cây, cỏ trước thềm.
3. Bố bế con ra với phố phường
Xe chạy người đi như nước tuôn
Cây xanh, ngói đỏ, con đừng lạ
Muối mặn, gừng cay, hoa trái thơm.
4. Bố bế con ra với cuộc đời
Con ơi yêu lấy mặt con người
Tươi như quả chín, hồng như thắp
Sau nét âu lo, vẫn nét cười.
5. Bố nhấc con lên, bố nhấc lên
Dâng qua vai bố để con nhìn
Mai sau thành bạn đi cùng bố
Đường rộng trời ta xa mãi thêm.
(In trong Tác phẩm văn học được giải thưởng nhà nước, Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian, NXB Hội Nhà văn, 2014)
Bài 23 :
Vẽ sơ đồ tóm tắt luật, niêm, vần, nhịp, đối của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt luật Đường.
Bài 24 :
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:
MỜI TRẦU
Hồ Xuân Hương
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, NXB Khoa học xã hội, 2000)
a. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc?
c. Chỉ ra bài thơ đã tuân thủ luật, niêm, vần, đối của thể thơ như thế nào (kẻ và hoàn thành bảng sau vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
d. Nhận xét về cách ngắt nhịp của bài thơ.
đ. Xác định bố cục của bài thơ.
e. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết?
g. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 25 :
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THU VỊNH
Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(In trong Nguyễn Khuyến – Tác phẩm chọn lọc, Lại Văn Hùng (giới thiệu và tuyển chọn), NXB Giáo dục, 2009)
a.Xác định bố cục của bài thơ.
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc? Làm rõ bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường bằng cách điền vào bảng sau (làm vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
c. Cảnh mùa thu được thể hiện ra sao qua sáu câu thơ đầu? Khung cảnh ấy góp phần thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
d. Trong các cặp câu 3 - 4, 5 – 6, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của chúng.
e. Bài thơ được ngắt nhịp như thế nào? Nhận xét về cách ngắt nhịp đó.
Em hiểu gì về hai câu thơ cuối? Theo em, cảm xúc của tác giả ở hai câu thơ này có sự thay đổi ra sao so với các câu thơ trên?
f. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 26 :
Tư tưởng của tác phẩm văn học được biểu hiện qua những yếu tố nào?
a. Nhân vật chính, người kể chuyện, đề tài, chủ đề,…
b. Đề tài, chủ đề, nhân vật,….
c. Hình tượng nghệ thuật, đề tài, chủ đề, cảm hứng nhân đạo,….
d. Hình tượng nghệ thuật, nhân vật, cảm hứng chủ đạo,….
Bài 27 :
Đọc đoạn trích sau và liệt kê những chi tiết miêu tả lời nói, thái độ, hành động của nhân vật Xa-vu-skin, chọn phân tích một chi tiết mà em thích nhất:
- Cô An-na Va-xi-li-ép-na, cô nhìn xem này!
Nó gắng sức vần một tảng tuyết bên dưới bết những đất cùng với đám cỏ mục nát vẫn còn sót lại. Ở đây, trong một cái hố, có một cục tròn bọc trong những tấm lá đã mủn nát mỏng dính như mạng nhện. Qua lớp lá thòi ra những đầu kim nhọn hoắt.
An-na Va-xi-li-ép-na đoán ra đấy là con nhím.
- Nó tự ủ ấm mới khéo chứ! – Xa-vu-skin ân cần đắp cho con nhím tấm chăn mộc mạc của nó. Rồi thằng bé bới tuyết cạnh một khúc rễ khác. Trước mắt là một cái hang nhỏ xíu, trên vòm có những trụ băng rủ xuống như tua viền. Trong hang, một con nhái màu nâu nom như bằng bìa cứng ngồi chồm hổm, làn da căng dính xương bóng như đánh véc-ni, Xa-vu-skin sờ vào con nhái, nó không động đậy.
- Vờ vĩnh! – Xa-vu-skin bật cười – Làm như đã chết rồi. Thế mà nắng ấm lên là nó nhảy ngay đi cho mà xem, ôi chao, cứ là như choi choi ấy! Thằng bé tiếp tục đưa An-na Va-xi-li-ép-na đi thăm cái thế giới bé nhỏ của mình.
Dưới gốc sồi còn nhiều khách trọ khác: bọ dừa, thằn lằn, rệp cây. Một sống ẩn kín dưới các nhánh rễ, số khác rúc vào những kẽ vỏ cây. Con nào cũng gầy nhom, dường như bên trong rỗng tuếch, chúng ngủ vùi cho qua mùa đông. Cái cây cường tráng, tràn trề nhựa sống tích tụ quanh nó nhiều sinh lực ấm áp đến nỗi loài thú đáng thương không thể tìm đâu ra căn nhà tốt hơn.
(Iu-ri Na-ghi-bin, Cây sồi mùa đông)
Bài 28 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TÍ BỤI
Quế Hương
Hồi mới đến ở, nhà tôi cứ tì tì mất dép. Đôi săng đan con mới xó chân ngày mồng một Tết, mồng hai phải đi dép cũ. Anh bạn đến chơi lịch sự cởi giày ở tầm chùi chân trước hiên, ra về chỉ còn đối vớ! Học trò đến thăm có đứa đi chân không về. Tôi than phiền với người hàng xóm, chị ấy bảo: “Thằng Tí bụi chứ ai vô đây. Sư tổ ăn cắp vặt. Cô vô nhà hắn mà chửi." Tôi không biết chửi. Vả lại không bắt quả tang làm sao mà chửi hắn. Thế là tôi bắt đầu cảnh giác. Khi có khách, tôi nhìn chăm chăm ra cổng.
Rồi nhà tôi bỗng xuất hiện một vị khách không mời. Đó là một con chó đen tuyền, gầy gò ngồi chực trước cửa. Ngó bộ dạng chẳng mấy khi được no của hắn tôi thấy thương ném cho mấy mẩu xương. Hôm sau, hắn lại xuất hiện, mắt dán vào tôi. Không cầm lòng được, tôi lại cho ăn. Cứ thế ngày lại ngày, giữa hắn và tôi bỗng hình thành một mối dây buộc chặt. Có xương tôi để dành cho hắn. Đi ăn giỗ ở nhà mẹ tôi cũng nghĩ đến hắn và nhặt cả túi xương về cho hắn. Tôi mở cửa cho hắn vào nhận quà. Hắn nhìn đống xương ứa nước dãi nhưng chưa ăn ngay.
Hắn nằm xoài trước hiện, gối đầu lên hai chân trước thở hắt ra sung sướng như một kẻ được nằm nghỉ trên chiếc giường thân thuộc của mình, mắt vẫn ngủ tôi đợi chờ thực với vuốt ve. Bao giờ ăn hắn cũng chừa lại một mẩu to nhất tha về. Thế rồi một lần hắn đang ăn bỗng có tiếng huýt gió. Lập tức hắn bỏ bữa rồi len lén tha một chiếc dép chạy ra cổng. Thì ra thủ phạm trộm đẹp nhà tôi chính là hắn. Nói đúng hơn là tên huýt gió. Thấy tôi cảnh giác, nó huấn huyện con chó thành tòng phạm.
Hắn vẫn ngồi trước cổng nhà tôi dẫu cổng và cả lòng tôi đã khép. Thấy tôi, hắn vẫy đuôi. Tôi bỏ đi, hắn tru lên thảm thiết. Giận dữ tôi ném chiếc dép còn lại mà hắn đã tha mất một chiếc qua rào nhưng hắn không thèm nhặt. Ném một mẩu xương hắn cũng không buồn ăn. Hắn nhìn tôi và cái cổng đóng chặt như muốn hỏi tại sao không mở cho hắn.
Tôi gặp hắn đi cùng một thằng nhóc ra chợ. Tôi lơ hắn còn hắn chạy đến vẫy đuôi tíu tít mừng tới, "Win, lại đây!" Thằng nhóc gọi. Thì ra hắn tên Win. Còn thằng kia chắc là Tí bụi vì trông hắn rất "bụi" Loắt choắt, bẩn thỉu, ranh ma. Mua xong, ra đến cửa chợ tôi bỗng nghe tiếng chân sầm sập và tiếng la í ới "Trộm... trộm... bắt lấy!". Một con chó đen miệng ngậm tảng thịt lao ra khỏi chợ, ngang qua tôi bỗng dừng lại. Chỉ cần tích tắc khựng lại ấy, người dân theo đằng sau đã kịp quật một gậy. Đau quá hắn khuỵu xuống. Chiếc gậy lại nhằm đầu hắn vụt tới. Tôi kịp thấy đôi mắt hắn nhìn tôi da diết. Không nghĩ, tôi đưa chiếc giỏ thức ăn để đòn cho hắn. Còn cho thoát hiểm gượng dậy lảo đảo chạy tiếp còn tôi ngồi giữa đồng đồ ăn tung tóe với bao câu rủa ráy: Tự nhiên hứng! Chắc là chủ. Ngó thế mà là chủ của con chó ăn cắp! Đền đây! Hơn kí thịt đấy!...
Trưa hôm ấy, một đôi dép phiêu bạt bỗng trở về lại mái nhà xưa!
Từ đó cổng nhà tôi hay mở và con Win vào năm xoài trước tái hiện đầy nắng. Nó ăn, lơ mơ ngủ rồi sực nhớ đến chủ lại tất tả ra về. Thỉnh thoảng tôi gói cái gì đó trong bao ni lông. Con chó thật khôn, thấy đưa bao ni lông là biết ngay quà của chủ, lập tức ngậm ở miệng chạy về. Trong bao ni lông đôi khi còn là mấy chiếc áo cũ. Soạn đồ của con, tôi chính nghĩ đến chiếc áo bẩn ngắn cũn cỡn không cài khuy của Tí bụi…
Con Win ngày càng nặng nề. Thì ra hắn sắp làm mẹ. Một lần có giỗ, đợi hắn không ra, tôi cần bịch thức ăn hỏi như Tí bụi. Hắn ở tuốt xóm trong, bên hồ rau muống của bà Tư. Không ai thấy cha hắn. Hai mẹ con sống lăn lóc ở họ phố bụi bờ. Bà Tư cho che tạm túp lều bên hồ rau muống để vừa canh rau cho bả vừa có chỗ chui ra chui vào. “Nhà” Tí bụi mùa hè mát nhung mùa đông lạnh lùng. Túp lều đầy rác, nhỏ nhoi như tai nấm, không biết tựa vào đầu để trốn gió. Những tấm ni lông che chắn tạm bợ cứ lật lòng khoe túp lều nát rác đuổi nhau loăng quăng. Bà mẹ tâm thần của Tí bụi ngày nào cũng đi kiểm rác rồi tẩn mẩn đếm như người ta đếm tiền, thỉnh thoảng phì cười một mình.
Con Win có nhiệm vụ không cho người lạ vặt rau muống của bà Tư, không cho bà điên ra khỏi nhà ban đêm và theo Ti bụi kiếm ăn. Thấy tôi, hắn nhổm dậy mừng rồi lại nằm xuống hãnh diện liếm mấy chú cún bé xíu trên chiếc bao tời rách như muốn khoe rằng con hắn đấy! Còn Tí bụi đang luộc rau muống bằng rác, chùi tay vào quần giương mắt ngó tôi.
Trong túp lều rách nát ấy, những sinh vật khốn cùng lại rất thương nhau. Thấy cách Tí bụi săn sóc bà mẹ điên và bầy chó, tôi nhận ra sau lớp bụi đời và cáu bẩn, tâm hồn hắn vẫn lóng lánh những sắc màu đáng quý. Bầy chó con dễ thương lên từng ngày. Ti bụi bảo con đẹp nhất sẽ tặng tôi. Nhiều đêm tôi thức giấc, túp lều ngập rác và ngập cả tình yêu ấy bỗng hiện ra. Cả những dự tính. Chẳng hạn chuyện Ti bụi học chữ, đi bán vé số thay vì moi rác và ăn cắp...
Sáng ấy, tôi có tiết thao giảng. Vừa dắt xe ra đã thấy Ti bụi đợi ở cổng, nghẹn ngào! “Cô ơi! Con Win...”
Bà mẹ điên của Tí bụi lang thang tìm con Win, gặp ai cũng hỏi: “Thấy hắn mô không? Đêm qua tui trốn hắn đi chơi... Chứ hắn trốn tui đi chơi….”.
Dấu máu con Win vẫn còn trên lối xóm. Hắn bị bọn bắt chó quật gây sắt vào đầu khi chạy theo bà điên...
Trời trở lạnh Túp lều bên hồ rau muống đầy gió và im lặng. Những mảnh ni lông rách te tua vẫn cuồng loạn trong vũ khúc gió. Rác loãng quãng chơi trò đuổi nhau. Không thấy Tí bụi. Lù lù trong túp lều trống hoác là ổ chó chưa mở mắt. Chúng đang đói lạnh vì thiếu mẹ. Tôi cầm đĩa sẵn đến đó và thấy lũ chó châu đầu rúc vào một đồng đen đen. Nhìn kĩ là Tí bụi. Nó trùm bao tới, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!
(In trong Đám cưới cô, Quế Hương. NXB Kim Đồng, 2019)
Bài 29 :
Trình bày khái niệm của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
Bài 30 :
Cấu trúc của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường gồm mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì?
Danh sách bình luận