Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
(1) Trở về sau một cuộc “chạy đua” với bao nhiêu khuôn mặt xa lạ, vừa bước chân vào phòng, tôi đã nằm úp xuống, thở hắt ra một hơi dài. Bon chen nơi phố thị không người thân thích, dẫu lâu dần cũng quen nhưng lại chẳng thể tránh được những ngày lòng trống rỗng, cô đơn đến lạ. Từ trên chiếc ghế sofa cũ nhìn ra bên ngoài qua cánh cửa nhỏ, tôi lại nhớ về những ngày xưa, phút giây còn được quây quần bên gia đình.
[…]
(2) Trong một ngày mưa, con đường từ trường về nhà không xa nhưng cũng đủ để thúc giục đôi chân tôi vội bước. Bên cạnh phần đường dành cho người đi bộ, thỉnh thoảng vài chiếc xe máy lại tăng tốc phóng nhanh qua khiến nước bắn tứ tung, lúc ấy bọn trẻ chúng tôi liền hét toáng lên rồi kết thúc bằng một trận cười giòn giã. Có lẽ, những hạt mưa đang bay ấy cũng mỉm cười, thanh âm của chúng từ từ lẫn vào trong cuộc trò chuyện của bọn học trò chúng tôi.
(3)Về đến nhà, tôi thấy cửa đã hé mở một bên, kèm theo đó là ánh nhìn chăm chú của mẹ. Thấy tôi, mẹ liền vẫy vẫy tay gọi tôi vào nhà. Cởi bỏ lớp áo mưa vướng víu, tôi đưa cho mẹ treo lên, còn mình thì cất cặp sách trong phòng. Lúc ấy, mẹ dịu dàng nói: “Tắm rửa đi rồi ăn cơm con.” Tôi đáp lời rồi mang theo áo quần chạy vào nhà tắm, để lại tiếng bước chân ở phía sau, cùng tiếng nước chảy vang lên ngay sau đó.
(4) Khi tôi trở ra, cơm nước đã dọn sẵn trên bàn. Trời nhá nhem tối, tôi ngồi quây quần bên bố mẹ, bắt đầu bữa cơm. Vừa mới cầm đôi đũa trên tay, tiếng sét đã rạch ngang trên bầu trời, một tia sáng vụt qua rồi biến mất, ánh điện trên trần nhà cũng theo đó mà tắt ngấm. Một lúc sau, căn nhà liền được thắp sáng bằng những ngọn nến, cảm giác như thứ ánh sáng ấm áp ấy đang vây quanh chúng tôi. Bên cạnh mâm cơm, vẫn là những câu chuyện nhỏ nhặt thường ngày như chuyện đi học, đi làm hay con trai bác nhà bên cạnh sắp cưới vợ… nhưng qua giọng kể của các thành viên trong gia đình lúc nào cũng thu hút, khiến tôi chăm chú dõi theo. Mọi người vừa ăn cơm vừa nói chuyện, bên ngoài mưa vẫn miệt mài tuôn rơi, một hình ảnh đã vốn in sâu vào tâm trí, thỉnh thoảng lại sống dậy trong ký ức tuổi thơ tôi.
(5) Như thường lệ, ăn cơm tối xong gia đình tôi đi lên nhà trên, ngồi kể cho nhau nghe về những việc làm ngày mai. Lúc này, đèn điện bật sáng, âm thanh từ chiếc tivi cũ cũng phát ra. Chọn kênh VTV3 quen thuộc, cả gia đình chăm chú theo dõi bộ phim còn dang dở, rồi cùng cười nói về những gì đang diễn ra trước mắt mình. Hình ảnh sống động, những thước phim quay chậm như gợi ra một cảm xúc khó tả không nói thành lời. Chỉ cần được ở bên gia đình, giây phút nào cũng thật đáng quý.
(6) Màn đêm buông xuống, mưa thôi rơi, gia đình bốn người chúng tôi cùng nhau chen chúc trên một chiếc giường. Giữa mùa mưa kéo dài, hơi ấm của tình yêu thương đã nhóm lên trong tôi một niềm hy vọng về tương tai tốt đẹp hơn. Không gian lặng đi đôi chút, bóng đêm kéo tôi vào những giấc mộng yên bình. Ở đó, tôi có bố, có mẹ, có em gái cùng dắt tay nhau đi về phía mặt trời, nơi ánh sáng vẫy gọi.
(7) Thuở nhỏ, ai cũng mong muốn được mau mau trưởng thành, lớn rồi thì có thể tự do làm những điều mình thích. Ấy vậy mà khi thời gian trôi qua, chúng ta lại muốn trở về làm những đứa trẻ ngây ngô, dại khờ để được ở mãi trong vòng tay của bố mẹ. Cuộc sống là vậy, thời gian cứ chảy trôi mãi về phía trước, lúc bạn có được những điều mình hằng mơ ước cũng là lúc nhận ra mình đánh mất đi nhiều thứ. Có lẽ trong cuộc sống này, thứ người ta nhớ nhất về những năm tháng tuổi thơ chính là kỷ niệm và khao khát cái gọi là “hơi ấm ngày xưa” – điều mà mãi mãi chẳng tìm lại được nữa. Và nếu có thể, tôi ước gì mình có thể dành nhiều thời gian cho gia đình hơn để không phải hối tiếc như bây giờ. Ai rồi cũng phải trưởng thành, liệu có mấy người còn nhớ về những năm tháng tuổi thơ êm đềm ấy?
(Hơi ấm ngày xưa -Trần Hàn- vanhoctre.com)
Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Dựa vào đặc trưng thể loại
Thể loại: Tản văn

Xác định nội dung chính của văn bản trên.
Đọc và xác định nội dung chính
Nội dung: Là cảm xúc không muốn làm những đứa trẻ ngây thơ, dại khờ.
Hai câu văn: “Về đến nhà, tôi thấy cửa đã hé mở một bên, kèm theo đó là ánh nhìn chăm chú của mẹ. Thấy tôi, mẹ liền vẫy vẫy tay gọi tôi vào nhà…” được liên kết với nhau chủ yếu bằng phép gì?
Vận dụng kiến thức về các phép liên kết trong câu
Phép liên kết: Phép lặp
Đọc đoạn (4) và chỉ ra những hình ảnh khiến nhân vật “tôi” (tác giả) nhớ mãi. Từ đó em có nhận xét gì về con người tác giả?
Xác định những hình ảnh khiến nhân vật “tôi” nhớ mãi
– Hình ảnh khiến nhân vật tôi nhớ mãi ở đoạn (4):
+ Tôi ngồi quây quần bên bố mẹ ăn cơm
+ Trời mưa mất điện, cả nhà thắp nến ăn cơm
+ Cả nhà vừa ăn cơm vừa nói chuyện, bên ngoài trời mưa to.
– Nhận xét về con người tác giả:
+ Giàu tình cảm
+ Luôn trân trọng những khoảnh khắc gia đình bên nhau
+ Yêu gia đình…
Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Ở đó, tôi có bố, có mẹ, có em gái cùng dắt tay nhau đi về phía mặt trời, nơi ánh sáng vẫy gọi.
Vận dụng kiến thức về biện pháp (liệt kê, ẩn dụ…)
- BPTT liệt kê có bố, có mẹ, có em gái
– Tác dụng:
+ Gợi hình ảnh gia đình quấn quýt, đoàn tụ bên nhau
+ Cảm giác hạnh phúc, vui sướng của nhân vật tôi khi ở bên gia đình
– BPTT ẩn dụ: mặt trời, ánh sáng
– Tác dụng:
+ Gợi hình ảnh gia đình luôn hướng đến tương lai tươi sáng, rực rỡ tràn đầy niềm vui, hạnh phúc
+ Khẳng định tình yêu và niềm tin của tác giả dành cho gia đình

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Bài thơ nào không thuộc thể thơ năm chữ?
Bài 2 :
Đánh dấu X vào các dòng nêu đúng yêu cầu cần đạt của Bài mở đầu:
|
a. Những nội dung chính của sách Ngữ văn 7 |
|
|
b. Nội dung và hình thức của một văn bản |
|
|
c. Cách sử dụng sách Ngữ văn 7 |
|
|
d. Phương pháp học và yêu cầu đánh giá kết quả học tập |
|
|
e. Cấu trúc của sách và các bài học trong sách Ngữ văn 7 |
|
Bài 3 :
Phương án nào nêu đúng những loại văn bản lớn trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 7?
A. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyện
B. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản truyện
C. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin
D. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyền thuyết
Bài 4 :
Phương án nào nêu đúng tên các thể loại truyện trong SGK Ngữ văn 7?
A. Truyện ngụ ngôn, truyện truyền thuyết, cổ tích, truyện đồng thoại, truyện cười
B. Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện khoa học viễn tưởng, truyện ngụ ngôn
C. Truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện Nôm, truyện trinh thám, truyện cười
D. Truyện truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười, truyện thần thoại
Bài 5 :
Dòng nào nêu đúng tên các thể loại cụ thể của tác phẩm kí trong SGK Ngữ văn 7?
A. Hồi kí và du kí
C. Tuỳ bút và tản văn
B. Du kí và nhật kí
D. Tuỳ bút và du kí
Bài 6 :
SGK Ngữ văn 7 hướng dẫn em đọc hiểu những thể loại thơ nào?
A. Thơ bốn chữ, năm chữ và thơ tự do
B. Thơ bốn chữ, năm chữ và thơ tám chữ
C. Thơ bốn chữ, năm chữ và thơ Đường luật
D. Thơ bốn chữ, năm chữ và thơ lục bát
Bài 7 :
Dựa vào nội dung mục 1. Đọc hiểu văn bản truyện của Bài Mở đâu, điên vào cột bên phải nhan đề văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:
|
Nội dung |
Nhan đề văn bản |
|
Truyện kể về thời thơ ấu của Bác Hồ |
|
|
Truyện viết về buổi học tiếng Pháp lần cuối trước khi vùng quê của chú bé bị sáp nhập vào nước Phổ |
|
|
Truyện về anh thợ mộc chỉ biết làm theo ý kiến người khác, dẫn đến hỏng hết mọi việc |
|
|
Truyện về con ếch đã kém hiểu biết lại tự kiêu, tự phụ, rước hoạ vào thân |
|
|
Truyện về cuộc so bì hơn thua giữa các bộ phận cơ thể |
|
|
Truyện viết về trận chiến quyết liệt của đoàn thuỷ thủ với những con bạch tuộc khổng lồ |
|
|
Truyện kể về một viên trung sĩ chế ra “chất làm gỉ” có thể phá huỷ tất cả các vũ khí bằng kim loại để chặn chiến tranh |
|
|
Truyện ghi lại tình huống bất ngờ, éo le của viên phi công vũ trụ trong một lần lên Sao Hoả |
|
|
Truyện về người đàn ông mang tên Võ Tòng |
|
Bài 8 :
Dựa vào nội dung mục 2. Đọc hiểu văn bản thơ của Bài Mở đầu. điền tên tác giả của văn bản và đánh dấu X vào ô thể loại tương ứng với mỗi văn bản ấy:

Bài 9 :
Dựa vào nội dung mục 3. Đọc hiểu văn bản kí của Bài Mở đầu, xác định đúng nhan đề hai văn bản thuộc thể loại tản văn có trong sách Ngữ văn 7:
A. Trưa tha hương, Tiếng chim trong thành phố
B. Cây tre Việt Nam, Người ngồi đợi trước hiện nhà
C. Người ngồi đợi trước hiên nhà, Tiếng chim trong thành phố
D. Cây tre Việt Nam, Trưa tha hương
Bài 10 :
(Câu hỏi cuối mục 3. Đọc hiểu văn bản kí, SGK) Sách Ngữ văn 7 hướng dẫn em đọc hiểu văn bản văn học thuộc những thể loại nào chưa được học ở lớp 6? Với nội dung chính của mỗi văn bản đã nêu trong các mục đọc hiểu truyện, thơ và kí, em thấy văn bản nào hấp dẫn với mình? Vì sao?
Bài 11 :
a) Nêu đặc điểm nổi bật của các văn bản nghị luận và văn bản thông tin trong sách Ngữ văn 7.
|
Loại văn bản |
Đặc điểm nổi bật |
|
Nghị luận |
Mẫu: Có hai loại là nghị luận văn học và nghị luận xã hội – Nghị luận văn học tập trung vào ... – Nghị luận xã hội có nội dung chính là .... |
|
Thông tin |
- … |
b) Điểm giống nhau giữa các văn bản nghị luận trong sách Ngữ văn 7 và Ngữ văn 6 là gì?
c) Các văn bản thông tin trong sách Ngữ văn 7 có gì khác biệt so với sách Ngữ văn 6?
Bài 12 :
(Câu hỏi cuối mục 6. Thực hành tiếng Việt, SGK) Đọc mục Thực hành tiếng Việt và trả lời các câu hỏi sau:
a) Bốn nội dung lớn về tiếng Việt trong sách Ngữ văn 7 là gì? Mỗi nội dung lớn có các nội dung cụ thể nào?
b) Hệ thống bài tập tiếng Việt trong sách Ngữ văn 7 có những loại cơ bản nào?
Bài 13 :
(Câu hỏi cuối phần II. Học viết, SGK) Đọc phần Học viết và trả lời các câu hỏi sau:
a. Sách ngữ văn 7 rèn luyện cho các em viết kiểu văn bản nào? Nội dung cụ thể của mỗi kiểu văn bản là gì? Điền theo bảng sau:
|
Kiểu văn bản |
Nội dung cụ thể |
|
|
Thuyết minh về quy tắc, luật lệ trong một hoạt động hay trò chơi |
|
|
Viết bản tường trình |
|
|
Nghị luận về một vấn đề trong đời sống (nghị luận xã hội) và phân tích đặc điểm nhân vật (nghị luận văn học) |
|
|
Kể về sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, có sử dụng các yếu tố miêu tả |
|
|
Bước đầu biết làm bài thơ bốn chữ, năm chữ; viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ. Viết bài văn biểu cảm về một con người hoặc sự việc |
b. Những yêu cầu về quy trình và kiểu văn bản nào tiếp tục được rèn luyện ở lớp 7?
Bài 14 :
Xem phần III. Học nói và nghe trong SGK, điền tóm tắt các nội dung cụ thể của kĩ năng nói và nghe theo bảng sau:
|
Kĩ năng |
Nội dung cụ thể |
|
Nói |
|
|
Nghe |
|
|
Nói nghe tương tác |
|
Bài 15 :
Xem phần Cấu trúc của sách “Ngữ văn 7” (cuối Bài mở đầu) và ghi nhiệm vụ của học sinh vào cột bên phải:
|
Các phần của bài học |
Nhiệm vụ của học sinh |
|
YÊU CẦU CẦN ĐẠT |
|
|
KIẾN THỨC NGỮ VĂN |
|
|
ĐỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN - Tên văn bản - Chuẩn bị - Đọc hiểu THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU |
|
|
VIẾT - Định hướng - Thực hành |
|
|
NÓI VÀ NGHE - Định hướng - Thực hành |
|
|
TỰ ĐÁNH GIÁ |
|
|
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC |
|
Bài 16 :
Nối thông tin cột A với thông tin tương ứng ở cột B

Bài 17 :
Chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa thể thơ bốn chữ và thể thơ năm chữ
Bài 18 :
Hãy điền thông tin phù hợp vào hai câu sau:
Nhịp thơ được biểu hiện ở chỗ ngắt chia dòng và câu thơ thành (1)….hoặc ở cách (2)…đều đặn cuối mỗi (3)….Nhịp thơ có ác dụng tạo (4)…, làm nên (5)…của bài thơ, đồng thời cùng góp phần đạt nội dung thơ.
Bài 19 :
Đọc lại văn bản Lời của cây (Trần Hữu Thung) trong SGK Ngữ văn 7 (tập l) và trả lời các câu hỏi sau:
a. Đề miêu tả hạt nảy mầm, tác giả đã sử dụng hình ảnh nào? Em có nhận xét gì về hình ảnh ấy?
b. Chỉ ra và nêu tác dụng của (những) biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ:
Mâm tròn nằm giữa
Vỏ hạt làm nôi
Nghe bàn tay vỗ
Nghe tiếng ru hời.
c. Nhận xét về nhịp thơ của đòng thơ “Rằng các bạn ơi?”. Từ đó, cho biết qua khổ thơ cuối, tác giả muốn thay mặt cây nhắn gửi đến chúng ta điều gì?
Bài 20 :
Đọc lại văn bản Sang thu (Hữu Thỉnh) trong SGK Ngữ văn 7 (tập l) và trả lời các câu hỏi sau:
a. Chỉ ra nét độc đáo về cách dùng từ ngữ, hình ảnh và biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Có đám mây nùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
b. Em có cảm nhận như thế nào về bức tranh thiên nhiên được miêu tả qua bài thơ?
c. Nếu được chọn một hình ảnh miêu tả tinh tế và tài tình khoảnh khắc đất trời chuyển mình sang thu thì em sẽ chọn hình ảnh nào? Vì sao?
d. Theo em, từ “bỗng” trong hai đòng thơ: “Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se” có thể được thay bằng từ “đã” không? Vì sao?
Bài 21 :
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
VỀ MÙA XOÀI MẸ THÍCH
Thanh Nguyên
Quả xoài xưa Mẹ thích
cứ gợi mãi trong con
cái hương thơm chín nức
…
Ngào ngại khắp không gian
hương xoài xưa Mẹ thích.
a. Bài thơ được làm theo thể thơ gì?
b. Chỉ ra những đặc điểm về vần và nhịp của bài thơ.
c. Tìm một số từ ngữ, hình ảnh miêu tả “quả xoài của mẹ” qua cách nhìn, cách cảm của người con. Nhận xét về điểm chung của những từ ngữ, hình ảnh ấy. Cách miêu tả như vậy có tác đụng gì?
d. Tìm và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:
Nhưng rồi có một ngày
trái xoài già rụng cuống...
Tháng hạ không đến sớm
dù cho quả xoài vàng
tháng hạ không đến muộn
đủ nhắc con mùa sang.
đ. Hình ảnh người mẹ hiện lên như thể nào trong văn bản?
e. Xác định chủ đề và thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.
Bài 22 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
MỤC ĐỒNG1 NGỦ TRÊN CÁT TRẮNG
Trần Quốc Toàn
Suốt ngày dãi nắng
Vàng hoe tóc bồng2
…
Bứt cọng nắng
Kéo ông mặt trời lên.
a. Bài thơ miêu tả cuộc sống của những chú bé mục đồng trong thời điểm nào? Dựa vào đâu để nhận biết điều đó?
b. Bức tranh cuộc sống của mục đồng đã được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh nào? Từ đó, em hình dung như thế nào về cuộc sống và tâm hồn của họ?
c. Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ.
d. Tác giả thể hiện tình cảm gì với chú bé mục đồng? Tình cảm đó được thể hiện qua những từ ngữ nào?
đ. Xác định (những) biện pháp tu từ được sử dụng trong những dòng thơ dưới đây và phân tích tác dụng của chúng.
Những hạt bắp nướng
Chín căng giọt sương
Một hòn than nổ
Bung vì sao băng
e. Qua bài thơ, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp gì?
Bài 23 :
Đọc hai văn bản Thỏ và rùa, Chuyện bó đũa và trả lời các câu hỏi phía dưới:
a. Nêu các đặc điểm chính của truyện ngụ ngôn được thể hiện trong văn bản trên.
b. Sau khi đọc truyện Thỏ và rùa, một số bạn cho rằng, việc rùa thắng thỏ là khó xảy ra trong thực tế (nếêu không phải vậy thì đã chẳng có câu: “Chậm như rùa!”). Các bạn khác lại cho rằng việc rùa thắng thỏ là xứng đáng và rất thuyết phục. Em đồng tình với ý kiến nào? Vì sao?
e. Một số bạn băn khoăn không dám chắc Chuyện bó đũa là truyện ngụ ngôn hay là truyện cổ tích. Nếu được các bạn ấy hỏi ý kiến trong việc xác định thể loại, em sẽ trả lời các bạn thế nào?
d. Theo em, cách kết thúc của hai văn bản Chuyện bó đĩa và Hai người bạn đồng hành và con gấu có điểm gì giống nhau? Điểm giống nhau ấy giúp em rút ra lưu ý gì khi đọc các truyện ngụ ngôn có cách kết thúc tương tự?
đ. Dựa vào các thông tin (tình huống, tác dụng, bài học) trong bảng đưới đây đối với truyện Thỏ và rùa, hãy hoàn tất các thông tin đối với truyện Chuyện bó đũa:

e. Dựa vào bảng dưới đây, tóm tắt tình huống truyện, chuỗi sự kiện được kể (cốt truyện), bài học ứng xử trong truyện Chuyện bó đũa:

g. Có bạn cho rằng: bài học vẫn không có gì thay đổi, nếu thay hai nhân vật thỏ và rùa trong truyện bằng hai nhân vật đều là thỏ hoặc hai nhân vật đều là ruầ chạy thi với nhau; và vì một lí do nào đó, con vật tưởng là yếu hơn, chậm hơn đã giành chiến thắng. Em có đồng ý như vậy không? Vì sao?
Bài 24 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CON CÁO VÀ CHÙM NHO
Một ngày nọ, Cáo ta xuống triền núi và phát hiện ra phía trước có một vườn nho. Dưới tán lá xanh, từng chùm nho căng tròn mọng nước, dưới ánh sáng mặt trời trông lại càng hấp dẫn. Những chùm nho này khiến người ta thèm thuồng. Cáo thèm tới mức nước bọt cứ trào ra hai bên mép.
- Ái chà chà, ngon quá đi mất!
Cáo ta nhìn trước ngó sau thấy chẳng có ai, nho lại nhiều thế này, cũng muốn chén ngay mấy chùm. Cáo đứng thẳng người, vươn tay hái nho. Nhưng giàn nho thì cao quá, Cáo ta dù có vươn người đến đâu cũng không thể tới được.
- Nào! Cố lên nào. Cố lên!
Cáo nhanh trí nghĩ ra một cách, thử nhảy lên xem sao.
- Một, hai, ba. Nhảy nào...
Nhưng cố lắm cũng chỉ với tới lá nho mà thôi. Cáo ta không đành lòng rời khỏi vườn nho khi chưa chén được quả nào. Nó nói một mình:
- Hừ! Không thể bỏ đi dễ dàng như vậy được!
Thế là nó lượn mấy vòng quanh vườn, cuối cùng phát hiện ra một cây nho khá thấp. Cáo ta lại nhảy lên, không tới được chùm nho, lại gắng sức nhảy lên lần nữa, vẫn không hái được quả nho nào. Cáo ta lại lượn xung quanh giàn nho. Và kia, sau một tán lá, Cáo ta phát hiện ra một chùm nho còn thấp hơn chùm lúc nãy. Thích chí quá, Cáo tự đắc:
- Không có việc gì có thể làm khó ta được. Ha ha! Lần này thì ta có nho ăn rồi!
Nước dãi trong cổ họng cứ trào ra, lùi lại mấy bước lấy đà, Cáo nhảy lên.
- Hai, ba. Nhảy nào!
Những hỡi ôi, vẫn chẳng với tới được.
- Hừ, tức thật. Làm thế nào bây giờ?
Cáo ta dù có làm thế nào cũng không thể hái được, thở đánh thượt một cái rồi nói:
- Làm sao mà mình lại cứ phải cố ăn mấy cái chùm nho này nhỉ? Vỏ thì xanh thế, chắc chắn là chưa chín rồi. Không biết chừng còn vừa chua vừa chát, không nuốt được, có khi còn phải nhổ ra, đúng là chả ra làm sao cả. Nói xong, Cáo rầu rĩ rời khỏi vườn nho.
(Nguồn: https://truyendangian.com/con-cao-va-chum-nho/)
Bài 25 :
Dựa vào bảng sau, xác định tình huống truyện, bài học, tác dụng của tình huống trong việc thể hiện bài học trong các truyện Hai người bạn đồng hành và con gấu, Chó sói và chiên con:
|
Nội dung |
Hai người bạn đồng hành và con gấu |
Chó sói và chiên con |
|
Tình huống truyện |
||
|
Bài học |
||
|
Tác dụng của tình huống truyện (trong việc thể hiện bải học) |
Bài 26 :
Thể hiện cách đọc sáng tạo về một truyện ngụ ngôn đã học, đã đọc bằng cách làm một bài thơ (lục bát, bốn chữ, năm chữ, song thất lục bát,...) hoặc vẽ một bức tranh.
Bài 27 :
Vận dụng cách nói thú vị, hài hước để kể lại truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.
Bài 28 :
Trình bày khái niệm và đặc điểm của văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học.
Bài 29 :
Trình bày hiểu biết của em về mục đích và nội dung chính của văn bản nghị luận.
Bài 30 :
Trình bày hiểu biết của em về ý kiến lớn và ý kiến nhỏ trong văn bản nghị luận.
Danh sách bình luận