a) Khi chuẩn độ dung dịch NaOH (base) với dung dịch HCl (acid) đã biết nồng độ, giọt dung dịch HCl cuối cùng được thêm vào sẽ làm dung dịch phenolphthalein trong bình tam giác chuyển từ màu hồng nhạt sang không màu.
b) Trong một thí nghiệm chuẩn độ, dung dịch NaOH (base) được nhỏ từ burette vào dung dịch HCl (acid) chứa phenolphthalein trong bình tam giác. Khi điểm tương đương được đạt tới, màu dung dịch sẽ chuyển từ không màu sang màu hồng.
c) Để xác định nồng độ của dung dịch acid chưa biết, ta có thể chuẩn độ dung dịch đó với dung dịch NaOH chuẩn và sử dụng phenolphthalein làm chỉ thị màu. Điểm kết thúc được xác định khi dung dịch chuyển từ màu hồng nhạt sang không màu.
d) Phương pháp chuẩn độ acid-base là một kỹ thuật phân tích hóa học vô cùng chính xác và dễ thực hiện, thường được sử dụng trong phòng thí nghiệm để xác định nồng độ acid-base ở mức rất thấp mà các phương pháp phân tích khác không thực hiện được.
a) Khi chuẩn độ dung dịch NaOH (base) với dung dịch HCl (acid) đã biết nồng độ, giọt dung dịch HCl cuối cùng được thêm vào sẽ làm dung dịch phenolphthalein trong bình tam giác chuyển từ màu hồng nhạt sang không màu.
b) Trong một thí nghiệm chuẩn độ, dung dịch NaOH (base) được nhỏ từ burette vào dung dịch HCl (acid) chứa phenolphthalein trong bình tam giác. Khi điểm tương đương được đạt tới, màu dung dịch sẽ chuyển từ không màu sang màu hồng.
c) Để xác định nồng độ của dung dịch acid chưa biết, ta có thể chuẩn độ dung dịch đó với dung dịch NaOH chuẩn và sử dụng phenolphthalein làm chỉ thị màu. Điểm kết thúc được xác định khi dung dịch chuyển từ màu hồng nhạt sang không màu.
d) Phương pháp chuẩn độ acid-base là một kỹ thuật phân tích hóa học vô cùng chính xác và dễ thực hiện, thường được sử dụng trong phòng thí nghiệm để xác định nồng độ acid-base ở mức rất thấp mà các phương pháp phân tích khác không thực hiện được.
Dựa vào phương pháp chuẩn độ acid – base.
a) đúng
b) đúng
c) sai, điểm kết thúc được xác định khi dung dịch chuyển từ không màu sang hồng nhạt.
d) đúng







Danh sách bình luận