Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
NGƯỜI BẠN MỚI
Buổi học hôm nay có chuyện hay quá! Vừa về đến nhà Tú khoe ngay với mẹ:
- Mẹ ơi! Lớp con có một thằng
Mẹ ngẩng lên:
- Sao lại thằng?
Tú vẫn hớn hở:
- Vâng! Một thằng mới vào học mẹ ạ! Buồn cười lắm!
Mẹ nhìn em:
- Buồn cười làm sao?
- Hí hí! Nó mặc áo con gái, mẹ ạ!
Mẹ hỏi:
- Áo con gái thế nào?
Tú vừa cười vừa kể rằng: Cái thằng ấy mới xin chuyển về, vào lớp 5C của con, nó mặc cái quần ngắn ơi là ngắn và cái áo sơ mi ở trong chiếc áo len thì lại cổ lá sen. Kiểu cổ áo của con gái. Thế có buồn cười không?
- Cái thằng ấy, mẹ ạ
Mẹ lắc đầu:
- Sao con cứ gọi bạn là thằng thế nhỉ? Nói chuyện với mẹ, với bố, con không được gọi bạn là thằng nọ thằng kia. Bạn ấy tốt hay xấu mà con lại gọi thế?
Tú lúng túng:
- Con con cũng chưa biết ạ!
- Không biết một tí gì hết?
Tú ngần ngừ, rồi thưa:
- Nó dát lắm mẹ ạ. Chúng con chế là mặc áo con gái, nó chỉ im lặng rồi đứng một mình thôi.
Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui. Mẹ nhìn em có ý trách:
- Hết gọi bạn là thằng, rồi lại gọi là nó. Sao con không gọi hẳn tên bạn ra hoặc là: bạn ấy, bạn con được nhỉ? Tên bạn ấy là gì?
- Là Nam. Phó Văn Nam mẹ ạ. Buồn cười quá cơ!
- Thế thì đến mai, con hãy chơi với Nam và hỏi sao Nam lại mặc áo con gái nhé!
Cậu Nam ấy, hóa ra là một học sinh giỏi. Ngay bài toán tập đầu tiên làm ở lớp mới, không cần phải hỏi bạn ngồi bên cạnh, không xem bài của ai, cậu ấy đã được hẳn mười điểm. Mà chữ viết nữa chứ, rất đẹp.
Tú làm quen và biết được rằng nhà Nam nghèo thôi. Đến cái ti vi, bố mẹ cậu ấy cũng không có tiền để mua. Nam phải chuyển trường đi theo bố mẹ, vì mãi đến bây giờ cơ quan mới chia nhà cho. Trước đây là đi ở nhờ. Bố mẹ Nam có hai con. Chị Nam là con gái, áo quần mặc chật từ lúc bé, có cái nào mẹ lại mặc cho Nam. Mặc ở nhà và mặc ở trong cũng được. Mẹ Nam bảo Nam là: Bộ mặc ở ngoài thì cần phải đúng là của con trai. Lớn hơn nữa, thì thôi. Giờ còn bé thì mặc tạm. Mẹ sẽ dành tiền may cho Nam. Thương mẹ vất vả, nên Nam đã vâng lời. Tú nghe bạn kể mà thương bạn. Mặc áo thừa của chị, mà vẫn học giỏi, lại biết thương mẹ, chứ không đua đòi, thấy ai có cái gì cũng muốn có theo.
Ngay hôm đó, về nhà Tú khoe:
- Mẹ ơi! Bạn Nam ấy, hay lắm mẹ ạ!
Mẹ hỏi:
- Hay làm sao?
- Bạn ấy là học sinh giỏi và ngoan, mẹ ạ!
Mẹ nhìn em. Ánh mắt mẹ cười vui
(Phong Thu - Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng)
Văn bản Người bạn mới thuộc thể loại truyện gì?
Dựa vào đặc trưng thể loại: xem văn bản có cốt truyện, nhân vật, lời kể, diễn biến sự việc hay không.
Thể loại truyện ngắn
Giải thích:
Văn bản có đầy đủ yếu tố của truyện ngắn: có nhân vật (Tú, mẹ, Nam), có cốt truyện (từ hiểu lầm => thay đổi nhận thức), có lời kể xen lời thoại.
- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; cốt truyện thường không chia thành nhiều tuyến; chi tiết cô đúc; lời văn mang nhiều ẩn ý;…
- Truyện ngắn thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật.
- Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến nhân vật.
- Sử dụng chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý
- Có truyện ngắn khai thác cốt truyện kì lạ, lại có truyện ngắn viết về câu chuyện giản dị, đời thường; có truyện ngắn giàu tính triết lí, trào phúng, châm biếm, hài hước, lại có truyện ngắn rất giàu chất thơ…
Link tham khảo:

Văn bản Người bạn mới viết về đề tài gì?
Đọc toàn bộ nội dung, xác định vấn đề trung tâm mà câu chuyện hướng tới.
Chú ý các chi tiết xoay quanh mối quan hệ giữa các nhân vật.
Đề tài: Bạn bè
Giải thích:
Câu chuyện xoay quanh việc Tú làm quen, hiểu và thay đổi cách nhìn về Nam (một người bạn mới). Nội dung tập trung vào tình bạn, cách ứng xử với bạn bè => đề tài là “bạn bè”.
- Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác của tác giả.
- Cách xác định đề tài: Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định văn bản đang đề cập tới khía cạnh, vấn đề nào của đời sống.
Tú đã nhận xét Nam là học sinh “giỏi” và “ngoan”. Em hãy tìm những từ ngữ trong văn bản để khẳng định lời Tú nhận xét là đúng.
Chú ý đoạn giữa và cuối văn bản, tìm các chi tiết cụ thể chứng minh cho nhận xét “giỏi” và “ngoan”.
Tú nói Nam là “giỏi” và “ngoan”, những chi tiết chứng minh:
“Ngay bài toán tập đầu tiên... cậu ấy đã được hẳn mười điểm.”
“Chữ viết rất đẹp.”
“Mặc áo thừa của chị, mà vẫn học giỏi, lại biết thương mẹ, chứ không đua đòi...”
=> Những chi tiết trên xác nhận lời nhận xét của Tú là hoàn toàn đúng.
Giải thích:
Các chi tiết như “được hẳn mười điểm”, “chữ viết rất đẹp”: chứng minh Nam học giỏi.
Chi tiết “biết thương mẹ, không đua đòi”: thể hiện sự ngoan ngoãn
=> Những dẫn chứng này trực tiếp thể hiện phẩm chất
Tính cách nhân vật là những đặc điểm riêng tương đối ổn định của nhân vật, được bộc lộ qua mọi hành động, cách ứng xử, cảm xúc, suy nghĩ,… Tính cách nhân vật còn được thể hiện qua các mối quan hệ, qua lời kể và suy nghĩ của nhân vật khác.
Link tham khảo: Nhân vật và tính cách nhân vật trong truyện
Chỉ ra lời người kể chuyện và lời của nhân vật trong đoạn trích sau:
Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui. Mẹ nhìn em có ý trách:
- Hết gọi bạn là thằng, rồi lại gọi là nó. Sao con không gọi hẳn tên bạn ra hoặc là: bạn ấy, bạn con được nhỉ? Tên bạn ấy là gì?
- Là Nam. Phó Văn Nam mẹ ạ. Buồn cười quá cơ!
Phân biệt dựa vào hình thức:
- Lời người kể chuyện: không có dấu gạch đầu dòng, mang tính tường thuật.
- Lời nhân vật: có dấu “-” hoặc đặt trong ngoặc kép, là lời nói trực tiếp.
- Lời của người kể chuyện: Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui. Mẹ nhìn em có ý trách
- Lời của nhân vật
+ “Hết gọi bạn là thằng, rồi lại gọi là nó. Sao con không gọi hẳn tên bạn ra hoặc là: bạn ấy, bạn con được nhỉ? Tên bạn ấy là gì?”
+ “Là Nam. Phó Văn Nam mẹ ạ. Buồn cười quá cơ!”
Giải thích:
Đoạn “Nghe Tú nói, vẻ mặt mẹ vẫn không vui…” là lời kể (miêu tả thái độ).
Các câu có dấu “-” như lời của mẹ và Tú là lời nhân vật.
- Trong truyện ngắn, lời người kể chuyện nhằm giới thiệu, miêu tả nhân vật, bối cảnh; bình luận, dẫn dắt câu chuyện, tạo thành giọng chủ đạo của truyện.
- Lời nhân vật là phương tiện bộc lộ ý nghĩ, tâm trạng, cá tính của nhân vật trong từng tình huống cụ thể, góp phần thể hiện phẩm chất, tính cách nhân vật.
Link tham khảo: Lời người kể chuyện và lời nhân vật trong truyện ngắn
Giả sử, em bị bạn bè hiểu lầm, trong hoàn cảnh đó, em sẽ ứng xử như thế nào?
Liên hệ bản thân, nêu cách ứng xử hợp lí.
Trình bày theo hướng: thái độ => hành động => kết quả mong muốn.
Nếu em bị bạn bè hiểu lầm, em sẽ bình tĩnh giải thích để các bạn hiểu rõ vấn đề. Nếu lời giải thích chưa được chấp nhận ngay, em sẽ vẫn cư xử tốt, không nổi nóng hay phản ứng tiêu cực. Em tin rằng chỉ cần mình sống thật lòng, rồi mọi người sẽ nhận ra và thấu hiểu.
Giải thích:
Việc “bình tĩnh giải thích, không nóng giận, tiếp tục cư xử tốt” là phù hợp vì giúp giải quyết hiểu lầm một cách tích cực. Cách này thể hiện sự trưởng thành và giống bài học từ câu chuyện (không vội đánh giá người khác).
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Truyện đeo nhạc cho mèo nhằm phê phán loại người nào trong xã hội?
Những kẻ thiếu nhận thức, thích phiêu lưu
Những kẻ hèn nhát nhưng viển vông
Những kẻ sẵn sàng rũ bỏ trách nhiệm với mọi người
Cả A, B và C
Bài 2 :
Trong văn bản Bức tranh của em gái tôi, trước đó, người anh có thái độ gì với em gái?
Bực bội, khó chịu vì em gái hay lục lọi
Kẻ cả, xem thường, cho là em nghịch ngợm
Lấy làm lạ, bí mật theo dõi em
Ngăn cản không cho em nghịch
Bài 3 :
Tác phẩm Nụ cười Chim Sắt của Võ Thu Hương thuộc thể loại gì?
Thơ tự do
Truyện kí
Tùy bút
Tiểu thuyết
Bài 4 :
Các nội dung nào đã được nêu lên trong phần Yêu cầu cần đạt của Bài Mở đầu?
|
Bài mở đầu giúp HS hiểu được: |
A.Yêu cầu rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe, các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung trong Chương trình Ngữ văn 2018 |
|
B. Những nội dung chính và hình thức cơ bản của một văn bản – tác phẩm văn bản |
|
|
C. Nội dung khái quát, cấu trúc của sách và các bài học trong SGK Ngữ văn 6 |
|
|
D. Phương pháp học và yêu cầu đánh giá kết quả học tập |
Bài 5 :
Phương án nêu đúng những loại văn bản lớn trong SGK Ngữ văn 6?
A. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin
B. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản truyện
C. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản thơ lục bát
D. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyền thuyết
Bài 6 :
Phương án nêu đúng những loại văn bản lớn trong SGK Ngữ văn 6?
A. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin
B. Văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản truyện
C. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản thơ lục bát
D. Văn bản nghị luận, văn bản thông tin, văn bản truyền thuyết
Bài 7 :
Phương án nào nêu tên các thể loại của văn bản văn học trong SGK Ngữ văn 6?
A. Truyện, thơ, văn bản thông tin
B. Truyện, thơ, văn bản nghị luận
C. Truyện thơ, kí
D. Truyện, văn nghị luận, văn bản thông tin.
Bài 8 :
Trong Bài Mở đầu, mục I gồm: Đọc hiểu văn bản truyện; Đọc hiểu văn bản thơ; Đọc hiểu văn bản kí; Đọc hiểu văn bản nghị luận; Đọc hiểu văn bản thông tin; Rèn luyện tiếng Việt. Phương án nêu đúng nội dung chính các phần lớn của mỗi mục?
A. Nêu lên mục tiêu các bài học
B. Nêu lên các yêu cầu cần đạt
C. Tóm tắt nội dung các bài học
D. Tóm tắt cách đọc các văn bản
Bài 9 :
a) SGK Ngữ văn 6 hướng dẫn em đọc hiểu những thể loại truyện nào?
A. Truyền thuyết, cổ tích, đồng thoại, truyện ngắn
B. Truyền thuyết, truyện nước ngoài, truyện ngắn
C. Truyền thuyết, đồng thoại, truyện nước ngoài
D. Truyền thuyết, cổ tích, đồng thoại, truyện dân gian
b) Đọc mục 1. Đọc hiểu văn bản truyện trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:
|
Nội dung |
Tên văn bản |
|
Truyện về hai cha con Dế Vần và chú chim nhỏ |
|
|
Truyện về ông lão đánh cá và bà vợ tham lam, ích kỉ |
|
|
Truyện về chàng trai nghèo nhưng trung thực, dũng cảm, bao dung |
|
|
Truyện về một nhân vật kiêu căng, hống hách nhưng biết ân hận về những việc làm không đúng |
|
|
Truyện về ba người bạn nhỏ, ban đầu có ý định trả thù, cuối cùng kết thức thành một khối yêu thương |
|
|
Truyện về người em gái có tấm lòng và tình cảm trong sáng, vô tư |
|
|
Truyện về sự tích vua Lê trả lại gươm thần |
|
|
Truyện về người anh hùng làng Gióng đánh giặc cứu nước |
|
|
Truyện về em bé tội nghiệp chết vì đói rét trong đêm Giáng Sinh |
|
Bài 10 :
Đọc mục 2. Đọc hiểu văn bản thơ trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:
|
Nội dung |
Tên văn bản |
|
Cảm xúc nghẹn ngào về nhà thăm mẹ |
|
|
Hình ảnh hồn nhiên, nhí nhảnh của chú bé liên lạc dũng cảm |
|
|
Những xúc động, bâng khuâng khi nghĩ về bàn tay của mẹ |
|
|
Ca ngợi, đề cao công cha, nghĩa mẹ |
|
|
Tình cảm da diết, cảm động của người chiến sĩ đối với Bác Hồ |
|
|
Hình ảnh và tâm tư, suy nghĩ của chú gấu con ngộ nghĩnh, hồn nhiên, vui nhộn |
|
Bài 11 :
Đọc mục 3. Đọc hiểu văn bản kí trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:
|
Nội dung |
Tên văn bản |
|
Qua văn bản, các em sẽ được cảm nhận thế nào là tình mẫu tử sâu nặng |
|
|
Đó là những ghi chép về tuổi thiếu niên của nhà sáng lập hãng xe Honda nổi tiếng của Nhật Bản |
|
|
Qua văn bản, các em sẽ hiểu thêm về một mảnh đất nổi tiếng phương Nam |
|
Bài 12 :
Đọc mục 4. Đọc hiểu văn bản nghị luận trong SGK và điền vào cột bên phải tên văn bản có nội dung nêu ở cột bên trái:
|
Nội dung |
Tên văn bản |
|
Phân tích nội dung, ý nghĩa của truyện Thánh Gióng |
|
|
Chỉ ra sự cảm nhận tinh tế của tác giả dân gian trước vẻ đẹp của cô gái và cánh đồng lúa mênh mông, bát ngát |
|
|
Giúp em hiểu vì sao Nguyên Hồng lại viết rất hay về tầng lớp những người cùng khổ |
|
|
Giải thích vì sao phải tiết kiệm nước ngọt |
|
|
Lí giải về những lợi ích của vật nuôi trong nhà |
|
|
Nhấn mạnh sự cần thiết của việc bảo vệ động vật |
|
Bài 13 :
Đọc mục 5. Đọc hiểu văn bản thông tin trong SGK và sắp xếp tên các văn bản thông tin theo hai đề tài vào bảng sau:
|
Tên văn bản |
Thuật lại một lịch sử sự kiện |
Thuật lại một sự kiện văn hóa, thể thao, khoa học |
|
Giờ Trái Đất |
|
|
|
Phạm Tuyên và ca khúc mừng chiến thắng |
|
|
|
Hồ Chí Minh và “Tuyên ngôn độc lập” |
|
|
|
Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ |
|
|
|
Điều gì giúp bóng đá Việt Nam giành chiến thắng? |
|
|
|
Những phát minh “tình cờ và bất ngờ” |
|
|
Bài 14 :
Phương án nào không phải là dạng bài tập tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 6?
A. Nhận biết đơn vị tiếng Việt.
B. Phân tích tác dụng của đơn vị tiếng Việt
C. Phân tích hệ thống các đơn vị tiếng Việt
D. Tạo lập đơn vị tiếng Việt.
Bài 15 :
Xác định tên các kiểu văn bản (Phần II. Học viết trong SGK) và yêu cầu cơ bản của mỗi kiểu văn bản tương ứng được rèn luyện viết ở SGK Ngữ văn 6.
Bài 16 :
Phương án nào sau đây nêu đúng thứ tự các bước mà người viết cần thực hiện để viết một văn bản?
A. Tìm ý và lập dàn ý, chuẩn bị, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết
B. Chuẩn bị, tìm ý và lập dàn ý, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết
C. Lập dàn ý, chuẩn bị, tìm ý và viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết
D. Tìm ý và chuẩn bị, lập dàn ý, viết bài, kiểm tra và chỉnh sửa bài viết
Bài 17 :
Xem phần III. Học nói và nghe trong SGK, điền tóm tắt các yêu cầu của kỹ năng nói và nghe theo bảng sau:
|
Kĩ năng |
Yêu cầu |
|
Nói |
|
|
Nghe |
|
|
Nói, nghe tương tác |
|
Bài 18 :
Xem phần Cấu trúc của sách Ngữ văn 6 và ghi nhiệm vụ của HS vào cột phải.
|
Các phần của bài học |
Nhiệm vụ của HS |
|
Yêu cầu cần đạt |
|
|
Kiến thức ngữ văn |
|
|
ĐỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN - Tên văn bản - Chuẩn bị - Đọc hiểu TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU - Tên văn bản - Chuẩn bị - Đọc hiểu |
|
|
VIẾT - Định hướng - Thực hành |
|
|
NÓI VÀ NGHE - Định hướng - Thực hành |
|
|
TỰ ĐÁNH GIÁ |
|
|
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC |
|
Bài 19 :
Trình bày đặc điểm của văn bản truyện, văn bản truyền thuyết?
Bài 20 :
Ý nào dưới đây không thể hiện đặc điểm của nhân vật truyền thuyết?
a. Thường có những điểm khác lạ về lai lịch, phẩm chất
b. Nhân vật là những người bình thường, nghèo khổ
c. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn đối với cộng đồng
d. Được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ
Bài 21 :
Đặc điểm nào dưới đây không phải đặc điểm của cốt truyện truyền thuyết?
a. Thường xoay quanh công trạng, kì tích của nhân vật mà cộng đồng truyền tụng, tôn thờ
b. Thường sử dụng yếu tố kì ảo nhằm thể hiện tài năng, sức mạnh khác thường của nhân vật
c. Thường kết thúc có hậu, thưởng phạt phân minh
d. Cuối truyện thường gợi nhắc các dấu tích xưa còn lưu lại đến hiện tại
Bài 22 :
Đọc VB dưới đây và trả lời các câu hỏi bên dưới:
TRUYỀN THUYẾT VỀ NGỌC BÀ THIÊN Y A NA
Xưa, có hai vợ chồng một lão tiều phu, tuổi đã cao mà vẫn chưa có con. Họ cất nhà trên núi Đại An, cạnh một cửa sông, sinh sống bằng việc đốn củi và phát rẫy trồng dưa trên miền núi. Nhiều lần thăm rẫy thấy hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất, ông lão có ý rình xem kẻ hái trộm dưa là ai.
Một đêm kia, dưới ánh trăng mờ, ông lão thấy một cô bé đang hái trộm dưa. Cô vừa hái dưa vừa tung lên trời để đùa nghịch. Ông lão bèn giữ lại hỏi, mới biết cô bé mồ côi cha mẹ sống lưu lạc ở vùng này. Thấy diện mạo cô bé khác với người thường, lại ở vào hoàn cảnh đáng thương, vợ chồng ông lão đem lòng thương mến và đem về làm con nuôi, thương quý như con đẻ của mình. Vợ chồng ông lão cũng không hay biết rằng: chính cô bé mồ côi ấy là Thiên Y A Na hóa thân.
Đến một ngày kia vùng núi Đại An bị nạn hồng thủy, nước sông dâng lên một màu đỏ đục. Đứng trước cảnh tượng ấy, Thiên Y A Na bỗng nhớ tới cảnh tiên cung, mặt mày ủ dột, rồi để tự khuây khỏa, Thiên Y A Na đi hái hoa quả trên núi, xếp đá lại, tạo nên một cảnh núi non giả, ngồi ngắm nghía và đùa nghịch để khỏi bận tâm đến cảnh thủy tai đang diễn ra quanh mình. Vì thế, Thiên Y A Na bị ông lão quở trách nặng lời. Hối hận vì mình đã làm cho cha mẹ nuôi phiền lòng, Thiên Y A Na đã dùng phép hóa thân, nhập vào khúc gỗ trầm đang trôi ra biển cả, rồi dạt vào bờ biển Bắc. Nhân dân địa phương thấy khúc gỗ quý, xúm nhau lại, định khiêng về nhưng lạ thay hàng trăm người ghé vai vào đều không khiêng nổi.
Tin đồn đến tai thái tử miền nọ. Thái tử ra tận bờ biển nhấc thử, thì khúc gỗ được nhấc lên một cách nhẹ nhàng. Cho là điềm lạ, thái tử đem khúc gỗ về cung cất giữ coi như một vật quý hiếm. Một đêm nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được, thái tử định đi sang thư phòng xem sách, khi đi ngang qua vườn thượng uyển, bỗng thấy một cô gái trẻ, đẹp đang dạo chơi ở đó. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng chạy về phía hoàng cung rồi biến mất. Nhưng vào một đêm khác, cô gái xuất hiện. Thái tử có ý bí mật theo dõi, dò xét để biết thực hư. Một cuộc giáp mặt diễn ra quá bất ngờ, cô gái không kịp hóa phép ẩn mình vào khúc gỗ, đành phải kể lại lai lịch của mình cho thái tử nghe. Thái tử đem lòng thương yêu cô gái. Tin này liền đến tai vua cha. Nhà vua cho mời thầy đoán quẻ. Thấy có điềm lành, vua liền cho kết duyên vợ chồng.
Sau mấy năm trời chung sống hạnh phúc nơi đất Bắc, Thiên Y A Na vẫn nhớ về vườn dưa, nơi cha mẹ nuôi sống lam lũ, hiu quạnh. Nỗi thương nhớ thôi thúc Thiên Y A Na trốn thái tử, bỏ hoàng cung, cùng hai con biến vào khúc gỗ trầm, theo dòng nước biển trôi về quê hương người Chăm-pa ở cửa biển Cù Huân.
Nhưng khi trở về Đại An, bà mới biết rằng cha mẹ nuôi đã qua đời từ lâu. Thiên Y A Na bèn lập miếu thờ hai ông bà trên núi Đại An. Trong thời gian ngắn ngủi lưu lại ở Đại An, bà đã tạo lập vườn tược nơi đất cũ, bày dân làng cách làm ruộng, cách chữa bệnh và nuôi dạy con cái. Sau đó Thiên Y A Na tự tạc tượng mình bằng khúc gỗ trầm dựng trên núi Cù Lao, rồi cùng hai con ra đi. Về sau, dân chúng xứ này đem tượng đó vào miếu để thờ.
Thái tử biển Bắc, từ khi xa cách vợ con, lòng nhớ thương sầu muộn khôn nguôi, quên ăn, quên ngủ. Thái tử bèn xin cha mẹ cấp cho một đội chiến thuyền, hướng về Nam, giong buồm chạy suốt ngày đêm để tìm tung tích mẹ con Thiên Y A Na. Khi thuyền tới biển Cù Huân, thái tử cho người lên núi hỏi thăm dân chúng về Thiên Y A Na. Nhưng từ lâu lắm, dân chúng đã không thấy tăm tích của Bà đâu nữa. Chỉ biết rằng Bà rất linh ứng. Người ta đồn rằng Thiên Y A Na lúc thì cưỡi voi trắng dạo chơi trên đỉnh núi, lúc thì hiện thành hình tấm lụa trắng bay trên không trung, có lúc lại cưỡi cá sấu qua lại giữa Cù Lao và Hòn Yến. Trước mỗi lần Bà hiển linh như vậy, thường có mấy tiếng nổ to như sấm, tiếp đến, hào quang rực sáng cả một vùng.
Nhân dân địa phương nhớ công đức của Thiên Y A Na, tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”. Họ bỏ bao công sức và tâm huyết xây một ngôi tháp thật đẹp và uy nghi trên ngọn núi thiêng, nơi tiếp giáp với cửa sông, gọi là Tháp Bà. Ngôi tháp ấy là để thờ Bà, nhưng cũng để thờ Thái tử, chồng bà (tức thờ Ông), thờ vợ chồng ông lão Tiều phu, cha mẹ nuôi, cùng hai con của Bà. Trải qua mưa nắng thời gian, ngôi tháp đó vẫn tồn tại bền vững uy nghi cho đến tận ngày nay.
a. Vì sao Thiên Y A Na được dân trong vùng tôn xưng là “Ngọc Bà” hay “Thánh mẫu”?
b. Những đặc điểm nào ở nhân vật Thiên Y A Na trong VB trên giúp em nhận biết đó là nhân vật truyền thuyết?
c. Theo em, về cốt truyện, truyền thuyết về Ngọc Bà Thiên Y A Na đã thể hiện những đặc điểm nào của cốt truyện truyền thuyết?
d.Tìm một số dẫn chứng cho thấy truyện có sử dụng yếu tố kì ảo và cho biết tác dụng của chúng trong VB trên?
đ. Văn bản trên tuy không sử dụng lời của nhân vật, nhưng đặc điểm của các nhân vật vẫn được thể hiện rõ? Vì sao?
Bài 23 :
Hoàn thành bảng sau để so sánh đặc điểm cốt truyện truyền thuyết và cốt truyện cổ tích.
|
|
Cốt truyện truyền thuyết |
Cốt truyện cổ tích |
|
Điềm giống nhau |
|
|
|
Điểm khác nhau |
|
|
Bài 24 :
Đặc điểm nào sau đây là của nhân vật cổ tích?
a. Thường gắn với sự kiện lịch sử và có công lớn với cộng đồng.
b. Thường thuộc kiểu nhân vật bất hạnh, nhân vật dũng sĩ, nhân vật thông minh,...
c. Thường là loài vật hoặc đồ vật được nhân hoá.
d. Thường được cộng đồng truyền tụng, tôn thờ.
Bài 25 :
Nối các khái niệm ở cột A với nội dung khái niệm tương ứng ở cột B.
|
A (các khái niệm) |
B (Nội dung khái niệm) |
|
1. Đề tài |
a. Là phần lời người kể dùng để thuật lại một sự việc cụ thể hay giới thiệu, miêu tả khung cảnh, con người, sự vật… |
|
2. Chủ đề |
b. Là lời nói trực tiếp của các nhân vật trong truyện |
|
3. Người kể chuyện |
c. Là vấn đề chính mà VB nêu lên qua một hiện tượng đời sống |
|
4. Lời của người kể chuyện |
d. Là hiện tượng đời sống được miêu tả, thể hiện qua VB |
|
5. Lời của nhân vật |
đ. Là vai do tác giả tạo ra để kể các sự việc |
Bài 26 :
Đọc truyện Sọ Dừa (SGK Ngữ văn 6, tập một) và tóm tắt thành một VB ngắn gọn.
Bài 27 :
Trong truyện Em bé thông minh (SGK Ngữ văn 6, tập một), em vé đã vượt qua những thử thách nào? Các thử thách ấy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện phẩm chất của nhân vật em bé thông minh?
Bài 28 :
Theo em, chủ đề của truyện Em bé thông minh (SGK Ngữ văn 6, tập một) là gì?
Bài 29 :
Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi:
HÀ RẦM HÀ RẠC
Ngày xưa, ở một nhà nọ có hai anh em sống với nhau. Cha mẹ họ mất sớm, để lại một gia sản cũng vào hạng khá trong vùng. Ít lâu sau, người anh lấy vợ.
Anh bảo em:
- Bây giờ đã đến lúc phải chia gia tài ra để cho mày học ăn học làm với người ta.
Đến ngày chia của, anh chìa ra một tờ giấy, bảo em:
- Của cải của cha mẹ để lại có ba giống: giống đực, giống cái và giống con. Mày bé bỏng nên tao nhường cho mày tất cả những đồ đạc giống đực, còn giống cái và giống con thì phần tao, nghe chưa? Nếu mày bằng lòng thì kí vào đây!
Em ngây thơ tưởng là anh thương mình thật nên không nghi ngờ gì cả, ký ngay vào giấy. Cuộc chia của bắt đầu. Nhưng đồ vật nào mà chả gọi là “cái” hay là “con”. Người anh đếm mãi:
- Cái nhà này: của tao, con trâu này: của tao, cái chum này: của tao, cái cày, cái búa này: của tao…
Suốt từ sáng đến chiều, những của chìm của nổi chia đã sắp vợi đi mà vẫn chưa có một vật nào thuộc giống đực cả. Mãi đến lúc trời đã tối, người em tức mình mới chụp lấy một cây dao rựa dựng ở bờ hè mà nói rằng:
- Đây là “đực rựa” thuộc về phần tôi!
Nói xong, người em vác rựa lùi lũi đi ra giữa lúc người anh cười ha hà vì thấy mưu kế của mình đã đạt.
Từ đây, người em ngày ngày vác rựa vào rừng chặt củi làm kế sinh nhai. Vì không có nhà ở nên anh ta phải ăn nhờ ở đậu hết nhà người bà con này qua người quen khác. Có hôm phải năm đình nằm chùa, ngủ câu ngủ quán như kẻ cầu bơ cầu bất. Mặc dù khổ như vậy nhưng anh vẫn chăm chỉ làm ăn đề khỏi phải ngửa tay ăn xin mọi người.
Một hôm, trăng non vừa mọc, anh đang ngủ say tỉnh dậy tưởng trời đã sáng, bèn vớ lấy rựa đi miết lên rừng. Đến cửa rừng mới hay là mình nhầm: trời vẫn còn khuya. Anh bèn nằm duỗi chân dưới một gốc cổ thụ đợi sáng, nhưng bỗng dưng ngủ quên lúc nào không hay. Anh chàng không ngờ rằng nơi đây là chốn chơi đùa của một bầy khỉ. Hôm ấy chúng cũng kéo nhau đến đây, nhưng khi thấy dưới gốc cây có một người lạ nằm thẳng đuỗn thì tưởng là một thây người; chúng bèn xúm nhau khiêng đi chôn đề lây chỗ nhảy nhót. Đang đi, anh chàng bỗng tỉnh giấc, toan la lên, nhưng thấy chuyện hay hay, nên cứ nằm im xem bọn khỉ khiêng mình đi đến đâu. Hỏi lâu, anh nghe bầy khỉ dừng lại nói với nhau:
- Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!
Nhưng trong bầy khỉ có một con khỉ đột đứng đầu, bảo chúng:
- Hà rầm hà rạc, chôn vào hố vàng, không chôn hố bạc!
Thế là bầy khỉ lại tiếp tục khiêng anh tới một chỗ khác xa hơn. Đến nơi, chúng đặt anh xuống, rồi kéo nhau trở về gốc cổ thụ. Anh chàng nhìn thấy xung quanh mình có những cục vàng sáng chói thì mừng lắm, bèn chờ cho chúng đi khuất mới đứng đậy nhặt đầy túi mang về. Từ khi trở nên giàu có, anh chàng hết làm nhà cửa lại tậu ruộng vườn, nuôi trâu bò, cuộc đời muôn phần tươi hơn trước.
Câu chuyện một người tiều phu lên núi bắt được vàng từ đó lan đi khắp nơi. Người anh nghe nói nửa tin nửa ngờ. Một hôm vào ngày giỗ cha, hắn thấy em mình tìm đến mời về nhà ăn giỗ. Hắn vội vã nhận lời. Bước vào nhà em, người anh không giấu được kinh ngạc:
- Từ dạo ấy đến giờ chú mày làm thế nào mà phát tài dữ vậy?
Người em vui vẻ kể tỉ mỉ cho anh nghe câu chuyện lên rừng gặp khi, và từ hố bạc tình cờ được chúng chuyển sang hố vàng. Nghe xong, người anh mượn ngay cây rựa, và cũng chờ một đêm trăng non, một minh vác rựa lên cửa rừng. Hắn ta cũng giả vờ duỗi chân nằm dưới gốc cổ thụ nọ. Lát sau, quả nhiên có một bầy khỉ đến nhảy nhót xung quanh góc cây. Khi thấy có người lạ nằm choán chỗ chúng vui đùa, chúng cũng xúm lại khiêng đi chôn, vì tưởng rằng đó là một cái thây người chết. Nhưng đến lúc nghe bầy khỉ nói: “Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!” thì hắn vội ngửng đầu cãi lại:
- Chôn vào hố vàng chứ! Chôn vào hố vàng chứ!
Bầy khỉ không ngờ cái thây người vẫn còn sống, cuống cuồng quẳng hắn xuống rồi bỏ chạy. Hắn bị lăn xuống sườn núi, đầu va vào đá, vỡ sọ chết.
(Theo Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, Viện Văn học xuất bản, 1993)
a. Truyện này kể về kiểu nhân vật nào? Vì sao em lại xác định như vậy?
b. Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Những từ ngữ nào cho em biết điều đó? Việc sử dụng ngôi kể đó có tác dụng gì?
c. Trong đoạn văn sau đây, đâu là lời của người kể chuyện, đâu là lời của nhân vật?
Người em vui vẻ kể tỉ mỉ cho anh nghe câu chuyện lên rừng gặp khi, và từ hố bạc tình cờ được chúng chuyển sang hố vàng. Nghe xong, người anh mượn ngay cây rựa, và cũng chờ một đêm trăng non, một mình vác rựa lên cửa rừng. Hắn ta cũng giả vờ duỗi chân nằm dưới gốc cổ thụ nọ. Lát sau, quả nhiên có một bầy khỉ đến nhảy nhót xung quanh góc cây. Khi thấy có người lạ nằm choán chỗ chúng vui đùa, chúng cũng xúm lại khiêng đi chôn, vì tưởng rằng đó là một cái thây người chết. Nhưng đến lúc nghe bầy khỉ nói: “Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!” thì hắn vội ngửng đầu cãi lại:
- Chôn vào hố vàng chứ! Chôn vào hố vàng chứ!
d. Liệt kê vào bảng sau những hành động của người em và người anh ở từng sự việc:
|
Sự việc |
Người em |
Người anh |
|
Phân chia tài sản |
|
|
|
Lên rừng và gặp bầy khỉ |
|
|
Qua hành động trên, em hiểu được gì về phẩm chất của nhân vật người em và người anh?
đ. Liệt kê các yếu tố kì ảo trong truyện. Các yếu tố này có vai trò gì đối với số phận của nhân vật người em?
e. Sắp xếp các sự việc sau theo đúng trình tự xảy ra trong truyện bằng cách điền các chữ số vào sơ đồ:
(1) Người anh lấy tất cả tài sản. Người em chỉ có cái rựa.
(2) Một hôm, người em lên rừng gặp bầy khỉ và trở nên giàu có.
(3) Xưa, ở gia đình nọ, cha mẹ mất sớm để lại một gia sản khá lớn cho hai anh em.
(4) Người em không có nhà cửa, ruộng vườn nhưng rất chăm chỉ làm ăn.
(5) Người anh nghe kể sự tình, lập tức bắt chước người em lên rừng tìm gặp bầy khỉ và bị quẳng xuống vực sâu.
(6) Ít lâu sau, người anh lấy vợ. Cuộc phân chia tài sản diễn ra.
g. Dựa vào sơ đồ trên, em hãy kể tóm tắt câu chuyện.
h. Theo em, chủ đề của truyện này là gì?
i. Em thích nhất chi tiết nào trong truyện này? Vì sao?
k. Em có suy nghĩ gì về kết thúc của câu chuyện?
Bài 30 :
Chọn câu trả lời đúng để điền vào những chỗ trống trong đoạn văn sau:
Về cách gieo vần thông thường của một cặp câu lục bát, tiếng thứ (1) ...... của dòng lục vần với tiếng thứ (2) ...... của dòng bát kế nó, tiếng thứ (3) ...... dòng bát vần với tiếng thứ (4) ...... của dòng lục tiếp theo.
a. (1) sáu - (2) tư - (3) tám - (4) sáu
b. (1) sáu – (2) tám - (3) sáu - (4) sáu
c. (1) sáu - (2) sáu - (3) tám - (4) sáu
đ. (1) sáu - (2) tư - (3) tám - (4) sáu
Danh sách bình luận