Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Các nghiên cứu xã hội học đã chỉ ra rằng, “tật muộn giờ” của người Việt Nam là do nên sản xuất nông nghiệp hàng nghìn năm tạo ra, khi người ta không cần phải chính xác từng phút như sản xuất công nghiệp. Nhưng “di chứng” này liệu vẫn còn rơi rớt đến tận ngày nay, ở những con người sinh ra và trưởng thành tại thành thị, hầu như không, hoặc rất ít chịu ảnh hưởng bởi văn hóa nông nghiệp?
Tôi cho rằng, ngoài yếu tố mang tính lịch sử, văn hóa này, “bệnh muộn giờ” ngày nay có phần xuất phát từ tâm lý đám đông - mọi người đều thế cả, mình việc gì phải đúng giờ. Ai đến sớm hơn, đợi lâu hơn, chỉ có thiệt. Mặt khác, với tâm lý ngại va chạm, muốn dĩ hòa vi quý, không may ai lên tiếng chỉ trích người đến muộn, vì tránh “chuyện bé xé ra to”. Nhưng có thật muộn giờ chỉ là “chuyện bé”? Điều này thì những ai từng mất công việc, mất tiền, mất cơ hội, mất quan hệ vì muộn giờ, mới hiểu được.
Một căn nguyên khác của tật muộn giờ là thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng. Muộn giờ chính là chiếm dụng tài nguyên của người khác, bao gồm thời gian, công sức, sự hăng hái và cả những cơ hội.
Thói quen sử dụng “giờ cao su” của người lớn cũng có thể lây lan, ảnh hưởng đến trẻ nhỏ. Một đứa trẻ thường xuyên thấy cha mẹ muộn giờ sẽ khó mà rèn được tính kỷ luật. Bạn tôi - giám đốc một doanh nghiệp tư nhân - đề ra quy định: muộn 5 phút, phạt 200.000 đồng, sung quỹ. Nhưng nhiều bạn trẻ Gen Z đòi “mua buôn” cả tháng với giá “mềm hơn”. Anh nói “vừa buồn cười vừa buồn lòng”, vì các bạn không coi việc đi làm đúng giờ là chuyện nghiêm túc.
Ở công sở, thói quen dễ dãi này còn thể hiện ở việc chậm deadline (không hoàn thành công việc đúng hạn), chậm phản hồi, chậm đưa ra quyết định, và nghĩ ra đủ loại lý do cho những sự chậm trễ đó. Mà ở Việt Nam, lý do luôn có sẵn: mưa gió, lụt lội, nóng quá, lạnh quá, tắc đường, hỏng xe, đau đầu, đau bụng, thậm chí bị công an giao thông bắt phạt ... Nếu là trong công việc, thì sự chậm trễ sẽ đi kèm phản xạ đổ lỗi: đối tác thiếu nhiệt tình, khách hàng quá khó tính, đồng nghiệp không hợp tác ... Chỉ có cái lỗi thuộc về bản thân thì ít người thẳng thắn nói ra.
Tôi từng đi nhiều quốc gia mà lịch sử có những nét tương đồng với Việt Nam - nền văn minh nông nghiệp. Nhưng hiện nay văn hóa của họ là đúng giờ từng phút, thậm chí đúng giờ từng giây. Tại Hàn Quốc, nhiều địa điểm công cộng luôn có các nhân viên đến sớm, đứng cạnh cửa giờ đồng hồ lên xem, khi đến giờ, không muộn hơn hay sớm hơn một giây nào, họ bấm nút mở cửa. Một công ty đối tác của Trung Quốc hẹn đến làm việc với doanh nghiệp Việt Nam từ trước đó 6 tháng, đúng ngày đúng giờ họ có mặt trước cửa, trong khi đối tác chủ nhà còn đang tập hợp đại diện các phòng ban ...
Hội tổ chức Thế vận hội 2020, ông Yoshitaka Sakurada - Bộ trưởng An ninh Mạng và đảm trách Olympics Tokyo, vì đi họp muộn ba phút đã bị chỉ trích dữ dội và phải công khai xin lỗi. Nhiều người có thể cảm thấy việc này là rất lạ vì muộn ba phút “thì có vấn đề gì?”. Nhưng một báo cáo của Heathrow Express ở Anh năm 2017 cho thấy thói quen đi làm muộn gây thiệt hại 11,7 tỷ USD cho nước này. Ở Mỹ, việc người lao động đi muộn khiến bang New York mất 700 triệu USD mỗi năm, con số này ở bang California là một tỷ USD.
[ ... ]
Đúng giờ, là tôn trọng, cũng là tự trọng. Đúng giờ không khiến ta thiệt đi xu nào, nhưng lại có thể mang về vô số “lợi nhuận” trong tương lai. Ngược lại, muộn giờ chính là rước lấy những “khoản lỗ” không thể đo lường được, dù trước mắt ta không coi là to tát.
(Việc gì phải đúng giờ, Trịnh Hằng, theo https://vnexpress.net/viec-gi-phai-dung-gio4797823.html, 28/9/2024)
Xác định luận đề của văn bản.
Đọc kĩ văn bản và xác định luận đề
Luận đề của văn bản là: Phê phán “tật muộn giờ” của người Việt Nam và khẳng định việc đúng giờ thể hiện sự tôn trọng, tự trọng cũng như mang lại nhiều lợi ích.

Liệt kê các nguyên nhân dẫn đến “tật muộn giờ” của người Việt Nam được nêu trong văn bản.
- Tìm các câu văn hoặc đoạn văn có nêu từ “nguyên nhân” hoặc mang hàm ý giải thích lý do.
- Gạch chân những ý nhỏ cụ thể.
Các nguyên nhân dẫn đến “tật muộn giờ” gồm:
- Ảnh hưởng từ nền sản xuất nông nghiệp truyền thống.
- Tâm lý đám đông: ai cũng muộn, mình cũng không cần đúng giờ.
- Tâm lý dĩ hòa vi quý, ngại va chạm, không ai nhắc nhở người đến muộn.
- Thói ích kỷ, vô kỷ luật và thiếu tự trọng.
- Ảnh hưởng từ người lớn đến trẻ nhỏ.
- Tâm lý coi nhẹ giờ giấc, không coi trọng sự nghiêm túc trong công việc.
- Văn hóa đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về sự chậm trễ.
- Thói quen chậm deadline, chậm phản hồi, trì hoãn quyết định.
Chỉ ra mối quan hệ giữa luận đề và luận điểm trong văn bản.
- Xác định mối liên hệ giữa luận đề (ý lớn bao trùm) và các luận điểm (ý nhỏ triển khai cụ thể).
- Phân tích xem các luận điểm có làm rõ và bổ trợ cho luận đề không.
Mối quan hệ giữa luận đề và luận điểm: Các luận điểm được triển khai trong văn bản đều nhằm làm rõ và chứng minh cho luận đề.
- Luận điểm 1: Giải thích nguyên nhân của “tật muộn giờ”.
- Luận điểm 2: Chỉ ra hệ lụy của việc muộn giờ.
- Luận điểm 3: So sánh với các quốc gia khác để thấy được sự khác biệt.
- Luận điểm 4: Khẳng định đúng giờ là tôn trọng và tự trọng.
→ Tất cả đều hướng tới việc phê phán “tật muộn giờ” và đề cao việc đúng giờ.
Nêu tác dụng của yếu tố tự sự trong văn bản.
- Xác định các đoạn văn có kể chuyện, dẫn chứng thực tế (bạn bè, bản thân, tình huống).
- Xem xét các đoạn kể đó đóng vai trò gì trong việc truyền đạt nội dung.
Yếu tố tự sự (kể chuyện thực tế) có tác dụng:
- Tăng tính thuyết phục cho lập luận bằng dẫn chứng cụ thể, chân thực.
- Tạo sự gần gũi, sinh động, giúp người đọc dễ hình dung và liên hệ với thực tế.
- Thể hiện quan điểm cá nhân của người viết một cách mềm mại, tự nhiên.
Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến “Đúng giờ, là tôn trọng, cũng là tự trọng.”? Vì sao?
- Đưa ra quan điểm cá nhân (đồng tình hay không).
- Giải thích lý do và dẫn chứng thực tế nếu có.
Đồng tình vì:
- Đúng giờ là thể hiện sự tôn trọng người khác, không để họ phải chờ đợi, lãng phí thời gian.
- Cũng là thể hiện sự nghiêm túc và tự trọng của bản thân, biết giữ lời hứa và cam kết.
- Trong môi trường làm việc, đúng giờ còn giúp tăng hiệu suất, xây dựng uy tín cá nhân.
- Thói quen đúng giờ góp phần hình thành lối sống kỷ luật, văn minh và chuyên nghiệp hơn.

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Bối cảnh truyện Cô bé bán diêm diến ra khi nào?
Đêm noel
Đêm giao thừa
Sinh nhật cô bé
Giỗ bà ngoại
Bài 2 :
Tác phẩm Hai cây phong thuộc thể loại gì?
Tiểu thuyết
Truyện vừa
Tùy bút
Ký sự
Bài 3 :
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng ở văn bản Bàn luận về phép học ?
Tự sự
Biểu cảm
Nghị luận
Thuyết minh
Bài 4 :
Đâu không phải là sáng tác của Ngô Tất Tố?
Tắt đèn
Lều chõng
Bước đường cùng
Việc làng
Bài 5 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Thời gian là vàng
Ngạn ngữ có câu: “Thời gian là vàng”. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian thì không mua được. Thế mới biết vàng có giá trị mà thời gian thì vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chữa chạy thì sống, để chậm thì chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất cơ hội là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau có hối cũng không kịp.
﴾Theo Phương Liên﴿
Bài 6 :
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Một người nuôi trai lấy ngọc luôn suy nghĩ làm thế nào để tạo được viên ngọc trai tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Ông ra bãi biển để chọn một hạt cát. Để chọn được một hạt cát theo ý muốn, ông đã hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không. Các hạt cát lắc đầu nguầy nguậy khiến ông sắp tuyệt vọng.
Đang lúc đó có một hạt cát đồng ý. Các hạt cát khác đều giễu nó ngốc, chui đầu vào trong vỏ trai, xa lánh người thân, bạn bè, không thấy ánh sáng mặt trời trăng sao, gió mát, thậm chí thiếu cả không khí, chỉ có bóng tối ướt lạnh, cô đơn, rất đau khổ, thử hỏi có đáng không? Nhưng hạt cát vẫn theo người nuôi trai về không một chút oán than.
Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…
(Qùa tặng cuộc sống)
Bài 7 :
Tục ngữ là gì?
Bài 8 :
Về nội dung, tục ngữ thể hiện điều gì?
Bài 9 :
Về hình thức, tục ngữ có các đặc điểm gì?
Bài 10 :
Bốn cặp câu thơ thường tương ứng với những phần nào?
Bài 11 :
Mỗi câu của bài thơ tứ tuyệt Đường luật thường có mấy chữ?
Bài 12 :
Thơ sáu chữ, bảy chữ là thể thơ như thế nào?
Bài 13 :
Hãy nêu điểm giống và khác nhau giữa thơ sáu chữ và thơ bảy chữ.
Bài 14 :
Nối khái niệm ở cột A với đặc điểm tương ứng ở cột B:

Bài 15 :
Vần liền, vần cách nằm trong nhóm vần chân hay vần lưng?
Bài 16 :
Hãy xác định bố cục của bài thơ Mây và sóng (Ta-go). Từ đó, xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ này.
Bài 17 :
Trong khổ thơ sau, nhà thơ đã sử dụng loại vần nào?
“Đầu những hồn thân tự thuở xưa
Những hồn quen dài gió dầm mưa
Những hỗn chất phác hiện như đất
Khoai sẵn tinh quê rất thiệt thà.”
(Tố Hữu, Nhớ đồng)
Bài 18 :
Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CHÍN CON RỒNG NHỎ BAY LÊN
Trần Quốc Toàn
Ghe ngon vừa nghe trống lện
Vẫy gió một trăm khăn hồng
Một trăm mái chèo khuấy nước
Bay lên chín con sông rồng.
Bay lên sông mẹ nghìn giọt
Đi tìm Sóc Trăng đồng chua
Đi tìm Trà Vinh đất khát
Chúng em thay trời làm mưa.
Giọt giọt mồ hôi mặn chát.
Đã ngọt trong cơn mưa vui
Mái dầm thiếu nhi thọc lét
Sông cười sóng reo thành lời.
Sáng nay ghe ngo vào hội
Mặt sông Cửu Long sáng ngời
Nhịp xuân tay đua gắng gỏi
Ghe ngo nối đất với trời...
(In trong Bữa tiệc của loài vật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008)
Bài 19 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
VỚI CON
Vũ Quần Phương
1. Bồng bồng!
Bố bồng con trên tay
Buổi chiều nay, buổi chiều nay
Khói hàng xóm bay là trên bếp
Sau trận mưa trời mát hơi may.
2. Bố bế con ra ngoài mái hiên
Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn
Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!
Cây giữa vườn cây, cỏ trước thềm.
3. Bố bế con ra với phố phường
Xe chạy người đi như nước tuôn
Cây xanh, ngói đỏ, con đừng lạ
Muối mặn, gừng cay, hoa trái thơm.
4. Bố bế con ra với cuộc đời
Con ơi yêu lấy mặt con người
Tươi như quả chín, hồng như thắp
Sau nét âu lo, vẫn nét cười.
5. Bố nhấc con lên, bố nhấc lên
Dâng qua vai bố để con nhìn
Mai sau thành bạn đi cùng bố
Đường rộng trời ta xa mãi thêm.
(In trong Tác phẩm văn học được giải thưởng nhà nước, Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian, NXB Hội Nhà văn, 2014)
Bài 20 :
Vẽ sơ đồ tóm tắt luật, niêm, vần, nhịp, đối của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt luật Đường.
Bài 21 :
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:
MỜI TRẦU
Hồ Xuân Hương
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, NXB Khoa học xã hội, 2000)
a. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc?
c. Chỉ ra bài thơ đã tuân thủ luật, niêm, vần, đối của thể thơ như thế nào (kẻ và hoàn thành bảng sau vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
d. Nhận xét về cách ngắt nhịp của bài thơ.
đ. Xác định bố cục của bài thơ.
e. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết?
g. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 22 :
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THU VỊNH
Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(In trong Nguyễn Khuyến – Tác phẩm chọn lọc, Lại Văn Hùng (giới thiệu và tuyển chọn), NXB Giáo dục, 2009)
a.Xác định bố cục của bài thơ.
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc? Làm rõ bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường bằng cách điền vào bảng sau (làm vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
c. Cảnh mùa thu được thể hiện ra sao qua sáu câu thơ đầu? Khung cảnh ấy góp phần thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
d. Trong các cặp câu 3 - 4, 5 – 6, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của chúng.
e. Bài thơ được ngắt nhịp như thế nào? Nhận xét về cách ngắt nhịp đó.
Em hiểu gì về hai câu thơ cuối? Theo em, cảm xúc của tác giả ở hai câu thơ này có sự thay đổi ra sao so với các câu thơ trên?
f. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Bài 23 :
Tư tưởng của tác phẩm văn học được biểu hiện qua những yếu tố nào?
a. Nhân vật chính, người kể chuyện, đề tài, chủ đề,…
b. Đề tài, chủ đề, nhân vật,….
c. Hình tượng nghệ thuật, đề tài, chủ đề, cảm hứng nhân đạo,….
d. Hình tượng nghệ thuật, nhân vật, cảm hứng chủ đạo,….
Bài 24 :
Đọc đoạn trích sau và liệt kê những chi tiết miêu tả lời nói, thái độ, hành động của nhân vật Xa-vu-skin, chọn phân tích một chi tiết mà em thích nhất:
- Cô An-na Va-xi-li-ép-na, cô nhìn xem này!
Nó gắng sức vần một tảng tuyết bên dưới bết những đất cùng với đám cỏ mục nát vẫn còn sót lại. Ở đây, trong một cái hố, có một cục tròn bọc trong những tấm lá đã mủn nát mỏng dính như mạng nhện. Qua lớp lá thòi ra những đầu kim nhọn hoắt.
An-na Va-xi-li-ép-na đoán ra đấy là con nhím.
- Nó tự ủ ấm mới khéo chứ! – Xa-vu-skin ân cần đắp cho con nhím tấm chăn mộc mạc của nó. Rồi thằng bé bới tuyết cạnh một khúc rễ khác. Trước mắt là một cái hang nhỏ xíu, trên vòm có những trụ băng rủ xuống như tua viền. Trong hang, một con nhái màu nâu nom như bằng bìa cứng ngồi chồm hổm, làn da căng dính xương bóng như đánh véc-ni, Xa-vu-skin sờ vào con nhái, nó không động đậy.
- Vờ vĩnh! – Xa-vu-skin bật cười – Làm như đã chết rồi. Thế mà nắng ấm lên là nó nhảy ngay đi cho mà xem, ôi chao, cứ là như choi choi ấy! Thằng bé tiếp tục đưa An-na Va-xi-li-ép-na đi thăm cái thế giới bé nhỏ của mình.
Dưới gốc sồi còn nhiều khách trọ khác: bọ dừa, thằn lằn, rệp cây. Một sống ẩn kín dưới các nhánh rễ, số khác rúc vào những kẽ vỏ cây. Con nào cũng gầy nhom, dường như bên trong rỗng tuếch, chúng ngủ vùi cho qua mùa đông. Cái cây cường tráng, tràn trề nhựa sống tích tụ quanh nó nhiều sinh lực ấm áp đến nỗi loài thú đáng thương không thể tìm đâu ra căn nhà tốt hơn.
(Iu-ri Na-ghi-bin, Cây sồi mùa đông)
Bài 25 :
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TÍ BỤI
Quế Hương
Hồi mới đến ở, nhà tôi cứ tì tì mất dép. Đôi săng đan con mới xó chân ngày mồng một Tết, mồng hai phải đi dép cũ. Anh bạn đến chơi lịch sự cởi giày ở tầm chùi chân trước hiên, ra về chỉ còn đối vớ! Học trò đến thăm có đứa đi chân không về. Tôi than phiền với người hàng xóm, chị ấy bảo: “Thằng Tí bụi chứ ai vô đây. Sư tổ ăn cắp vặt. Cô vô nhà hắn mà chửi." Tôi không biết chửi. Vả lại không bắt quả tang làm sao mà chửi hắn. Thế là tôi bắt đầu cảnh giác. Khi có khách, tôi nhìn chăm chăm ra cổng.
Rồi nhà tôi bỗng xuất hiện một vị khách không mời. Đó là một con chó đen tuyền, gầy gò ngồi chực trước cửa. Ngó bộ dạng chẳng mấy khi được no của hắn tôi thấy thương ném cho mấy mẩu xương. Hôm sau, hắn lại xuất hiện, mắt dán vào tôi. Không cầm lòng được, tôi lại cho ăn. Cứ thế ngày lại ngày, giữa hắn và tôi bỗng hình thành một mối dây buộc chặt. Có xương tôi để dành cho hắn. Đi ăn giỗ ở nhà mẹ tôi cũng nghĩ đến hắn và nhặt cả túi xương về cho hắn. Tôi mở cửa cho hắn vào nhận quà. Hắn nhìn đống xương ứa nước dãi nhưng chưa ăn ngay.
Hắn nằm xoài trước hiện, gối đầu lên hai chân trước thở hắt ra sung sướng như một kẻ được nằm nghỉ trên chiếc giường thân thuộc của mình, mắt vẫn ngủ tôi đợi chờ thực với vuốt ve. Bao giờ ăn hắn cũng chừa lại một mẩu to nhất tha về. Thế rồi một lần hắn đang ăn bỗng có tiếng huýt gió. Lập tức hắn bỏ bữa rồi len lén tha một chiếc dép chạy ra cổng. Thì ra thủ phạm trộm đẹp nhà tôi chính là hắn. Nói đúng hơn là tên huýt gió. Thấy tôi cảnh giác, nó huấn huyện con chó thành tòng phạm.
Hắn vẫn ngồi trước cổng nhà tôi dẫu cổng và cả lòng tôi đã khép. Thấy tôi, hắn vẫy đuôi. Tôi bỏ đi, hắn tru lên thảm thiết. Giận dữ tôi ném chiếc dép còn lại mà hắn đã tha mất một chiếc qua rào nhưng hắn không thèm nhặt. Ném một mẩu xương hắn cũng không buồn ăn. Hắn nhìn tôi và cái cổng đóng chặt như muốn hỏi tại sao không mở cho hắn.
Tôi gặp hắn đi cùng một thằng nhóc ra chợ. Tôi lơ hắn còn hắn chạy đến vẫy đuôi tíu tít mừng tới, "Win, lại đây!" Thằng nhóc gọi. Thì ra hắn tên Win. Còn thằng kia chắc là Tí bụi vì trông hắn rất "bụi" Loắt choắt, bẩn thỉu, ranh ma. Mua xong, ra đến cửa chợ tôi bỗng nghe tiếng chân sầm sập và tiếng la í ới "Trộm... trộm... bắt lấy!". Một con chó đen miệng ngậm tảng thịt lao ra khỏi chợ, ngang qua tôi bỗng dừng lại. Chỉ cần tích tắc khựng lại ấy, người dân theo đằng sau đã kịp quật một gậy. Đau quá hắn khuỵu xuống. Chiếc gậy lại nhằm đầu hắn vụt tới. Tôi kịp thấy đôi mắt hắn nhìn tôi da diết. Không nghĩ, tôi đưa chiếc giỏ thức ăn để đòn cho hắn. Còn cho thoát hiểm gượng dậy lảo đảo chạy tiếp còn tôi ngồi giữa đồng đồ ăn tung tóe với bao câu rủa ráy: Tự nhiên hứng! Chắc là chủ. Ngó thế mà là chủ của con chó ăn cắp! Đền đây! Hơn kí thịt đấy!...
Trưa hôm ấy, một đôi dép phiêu bạt bỗng trở về lại mái nhà xưa!
Từ đó cổng nhà tôi hay mở và con Win vào năm xoài trước tái hiện đầy nắng. Nó ăn, lơ mơ ngủ rồi sực nhớ đến chủ lại tất tả ra về. Thỉnh thoảng tôi gói cái gì đó trong bao ni lông. Con chó thật khôn, thấy đưa bao ni lông là biết ngay quà của chủ, lập tức ngậm ở miệng chạy về. Trong bao ni lông đôi khi còn là mấy chiếc áo cũ. Soạn đồ của con, tôi chính nghĩ đến chiếc áo bẩn ngắn cũn cỡn không cài khuy của Tí bụi…
Con Win ngày càng nặng nề. Thì ra hắn sắp làm mẹ. Một lần có giỗ, đợi hắn không ra, tôi cần bịch thức ăn hỏi như Tí bụi. Hắn ở tuốt xóm trong, bên hồ rau muống của bà Tư. Không ai thấy cha hắn. Hai mẹ con sống lăn lóc ở họ phố bụi bờ. Bà Tư cho che tạm túp lều bên hồ rau muống để vừa canh rau cho bả vừa có chỗ chui ra chui vào. “Nhà” Tí bụi mùa hè mát nhung mùa đông lạnh lùng. Túp lều đầy rác, nhỏ nhoi như tai nấm, không biết tựa vào đầu để trốn gió. Những tấm ni lông che chắn tạm bợ cứ lật lòng khoe túp lều nát rác đuổi nhau loăng quăng. Bà mẹ tâm thần của Tí bụi ngày nào cũng đi kiểm rác rồi tẩn mẩn đếm như người ta đếm tiền, thỉnh thoảng phì cười một mình.
Con Win có nhiệm vụ không cho người lạ vặt rau muống của bà Tư, không cho bà điên ra khỏi nhà ban đêm và theo Ti bụi kiếm ăn. Thấy tôi, hắn nhổm dậy mừng rồi lại nằm xuống hãnh diện liếm mấy chú cún bé xíu trên chiếc bao tời rách như muốn khoe rằng con hắn đấy! Còn Tí bụi đang luộc rau muống bằng rác, chùi tay vào quần giương mắt ngó tôi.
Trong túp lều rách nát ấy, những sinh vật khốn cùng lại rất thương nhau. Thấy cách Tí bụi săn sóc bà mẹ điên và bầy chó, tôi nhận ra sau lớp bụi đời và cáu bẩn, tâm hồn hắn vẫn lóng lánh những sắc màu đáng quý. Bầy chó con dễ thương lên từng ngày. Ti bụi bảo con đẹp nhất sẽ tặng tôi. Nhiều đêm tôi thức giấc, túp lều ngập rác và ngập cả tình yêu ấy bỗng hiện ra. Cả những dự tính. Chẳng hạn chuyện Ti bụi học chữ, đi bán vé số thay vì moi rác và ăn cắp...
Sáng ấy, tôi có tiết thao giảng. Vừa dắt xe ra đã thấy Ti bụi đợi ở cổng, nghẹn ngào! “Cô ơi! Con Win...”
Bà mẹ điên của Tí bụi lang thang tìm con Win, gặp ai cũng hỏi: “Thấy hắn mô không? Đêm qua tui trốn hắn đi chơi... Chứ hắn trốn tui đi chơi….”.
Dấu máu con Win vẫn còn trên lối xóm. Hắn bị bọn bắt chó quật gây sắt vào đầu khi chạy theo bà điên...
Trời trở lạnh Túp lều bên hồ rau muống đầy gió và im lặng. Những mảnh ni lông rách te tua vẫn cuồng loạn trong vũ khúc gió. Rác loãng quãng chơi trò đuổi nhau. Không thấy Tí bụi. Lù lù trong túp lều trống hoác là ổ chó chưa mở mắt. Chúng đang đói lạnh vì thiếu mẹ. Tôi cầm đĩa sẵn đến đó và thấy lũ chó châu đầu rúc vào một đồng đen đen. Nhìn kĩ là Tí bụi. Nó trùm bao tới, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!
(In trong Đám cưới cô, Quế Hương. NXB Kim Đồng, 2019)
Bài 26 :
Trình bày khái niệm của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
Bài 27 :
Cấu trúc của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường gồm mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì?
Bài 28 :
Nhận định nào sau đây KHÔNG PHẢI là đặc điểm về cách sử dụng ngôn ngữ của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
a. Thường sử dụng từ ngữ thuộc một chuyên ngành khoa học cụ thể.
b. Thường sử dụng động từ miêu tả hoạt động hoặc trạng thái.
c. Thường sử dụng câu khiến để chỉ hành động hoặc yêu cầu thực hiện.
d. Thường sử dụng từ ngữ miêu tả trình tự của một hoạt động.
Bài 29 :
Trình bày khái niệm và dấu hiệu nhận biết cách trình bày thông tin theo cấu trúc so sánh và đối chiếu trong văn bản thông tin.
Bài 30 :
Việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường mang đến những hiệu quả biểu đạt như thế nào?
Danh sách bình luận