Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
CƠM MÙI KHÓI BẾP
Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.
[…] Hôm sau bà lo mọ dậy từ lúc trời chưa hừng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngụt, khiếp quá hét toáng lên: “Cháy nhà”.
Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thử rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hôm nhà ông, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nảy lên bướng bỉnh chẳng chịu ăn. Nhớ không?”
Trời rạng từng từng sáng, thấy khói bay lên lên qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp cơm trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giờ nấp nơi người mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lật miếng cháy ở đáy rồi ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê đầy than củi quen. Vợ lại ở trong nhà, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười” với “yếu” đi, sáng bữa phải hớp chén sữa hoặc ổ mì là yên tâm, thêm thì thêm chút bánh quy cho tiện.
Cô con dâu bảo: “Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quán ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chi lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sáng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đầu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước ễu ệu, chỉ nhón là đói lại liền à” – Bà vừa san cơm ra chén vừa nói.
Ba chén cơm trắng, dĩa cá đồng kho nghệ. Anh hãy mút qua vợ, vợ bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có miệng có sức Thánh Gióng mời nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chăm chăm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo lầm được ba miếng, như là ẩn tượng trung cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.
Sáng hôm sau bà lại dậy sớm. Lại nhóm bếp rơm nấu cơm. Xong bữa nồi cơm không vơi được là mấy, vẫn đầy như lòng mẹ. Anh gắng ăn được nửa chén. Chén lòng san đôi cho mẹ cho vợ. Anh dỗi mẹ chở vợ con đi xem chợ Tết, đi thăm thử làng quê, thực chất là để ghé quán cho vợ con ăn bún ăn cháo.
Anh tự nhủ sáng mai phải thức sớm ngồi nấu bếp với mẹ như xưa. Tự nhủ sáng mai phải ăn chén cơm đầy với mẹ, nhai một miếng cơm cháy giòn thơm. Nhưng lâu ngày giờ về quê gặp lại bạn bè người thân, chỗ này mời chén rượu, chỗ kia mời bữa cơm. Cơm rượu quá hạn huyên câu chuyện ngày dài tới tận khuya. Hôm sau thức dậy đã sáng trọt sáng trời, cổ họng khô khóc không ăn nổi cơm dẻo, huống hồ là miếng cơm cháy.
Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mên. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.
Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhờ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.
Vào tới Sài Gòn ca mên cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.
Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bác cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.
Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.
Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ăn hận. Thì là hết cơ hội được ăn với mẹ chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi núa quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.
Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh đem nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…
(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu về ngược, NXB Trẻ, trang 49 – 54, 2016, TPHCM)
Xác định thể loại của văn bản trên. Văn bản được kể dưới điểm nhìn của ai
Xác định thể loại của văn bản trên. Văn bản được kể dưới điểm nhìn của ai
Dựa vào đặc điểm của thể loại truyện và cách xưng hô, lời kể trong văn bản để xác định thể loại, ngôi kể và điểm nhìn trần thuật.
Ngôi kể của văn bản trên là ngôi thứ ba
Giải thích:
Người kể chuyện không xưng “tôi” mà gọi nhân vật bằng các từ “anh”, “bà”, “vợ”, “con”… nên đây là ngôi kể thứ ba. Tuy nhiên, toàn bộ dòng hồi tưởng, cảm xúc bùi ngùi, day dứt, ân hận đều tập trung vào nhân vật “anh”, vì vậy câu chuyện được nhìn chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật này.
Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.
Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Món ăn gắn liền với tuổi thơ của anh vào mỗi buổi sáng là gì?
Món ăn gắn liền với tuổi thơ của anh vào mỗi buổi sáng là gì?
Đọc kĩ những chi tiết miêu tả bữa ăn sáng và kí ức tuổi thơ của nhân vật “anh”.
Món ăn gắn liền với tuổi thơ của anh vào mỗi buổi sáng là cơm trắng với món cá đồng.
Trong kí ức tuổi thơ, anh nhớ rõ những buổi sáng được ăn cơm mẹ nấu, nhớ cảm giác “lấy đũa xới hết cơm lên để lật miếng cháy ở đáy rồi ăn trước”. Những món ăn dân dã ấy không chỉ nuôi lớn anh mà còn chứa đựng tình yêu thương, sự chăm sóc tần tảo của người mẹ quê.
Miêu tả là tái hiện sự vật, làm cho sự vật hiện lên sinh động với những chi tiết về hình dáng, kích thước, khối lượng, màu sắc, âm thanh... như nó vốn có trong cuộc sống để người đọc (người nghe) như được nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy... đối tượng miêu tả một cách cụ thể, sinh động.
Vì sao sau khi mẹ mất, nhân vật anh thấy nhói lòng, ân hận?
Vì sao sau khi mẹ mất, nhân vật anh thấy nhói lòng, ân hận?
Phân tích tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật “anh” sau khi mẹ qua đời kết hợp với các chi tiết trong truyện.
Sau khi mẹ mất, nhân vật cảm thấy nhói lòng, ân hận vì không thể ăn cơm cùng với mẹ, những hành động của anh lúc mẹ còn sống có thể đã khiến mẹ tổn thương.
Giải thích:
Nỗi ân hận của nhân vật xuất phát từ sự thức tỉnh muộn màng. Khi còn mẹ, anh chưa hiểu hết tình thương âm thầm của mẹ qua từng bữa cơm, từng lời dặn dò. Chỉ đến lúc mất mẹ, anh mới thấm thía giá trị của những điều bình dị ấy. Chính điều đó làm cho nỗi đau và sự day dứt càng trở nên sâu sắc hơn.
- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; cốt truyện thường không chia thành nhiều tuyến; chi tiết cô đúc; lời văn mang nhiều ẩn ý;…
- Truyện ngắn thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật.
- Tính cách nhân vật là những đặc điểm riêng tương đối ổn định của nhân vật, được bộc lộ qua mọi hành động, cách ứng xử, cảm xúc, suy nghĩ,… Tính cách nhân vật còn được thể hiện qua các mối quan hệ, qua lời kể và suy nghĩ của nhân vật khác.
Link tham khảo: Nhân vật và tính cách nhân vật trong truyện
Chi tiết cuối truyện: “Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…” gợi cho em suy nghĩ?
Chi tiết cuối truyện: “Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…” gợi cho em suy nghĩ?
Phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh “khói bếp”, hành động nấu cơm và tâm trạng nhân vật ở cuối truyện.
Chi tiết cuối truyện mang ý nghĩa: Mùi khói bếp gắn với kí ức về người mẹ, trước giờ nhân vật con chỉ ăn cơm mẹ nấu nhưng chưa bao giờ thực nấu, hôm nay vào bếp mới biết mẹ vất vả thế nào.
Giải thích:
Khói bếp trong truyện là biểu tượng của tình mẹ, của quê hương, của những năm tháng tuổi thơ bình yên. Khi mẹ còn sống, khói bếp mang hơi ấm gia đình; khi mẹ mất, khói bếp trở thành nỗi nhớ không nguôi trong lòng người con.
Mở rộng:
- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; cốt truyện thường không chia thành nhiều tuyến; chi tiết cô đúc; lời văn mang nhiều ẩn ý;…
- Truyện ngắn thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật.
- Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến nhân vật.
- Sử dụng chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý
- Có truyện ngắn khai thác cốt truyện kì lạ, lại có truyện ngắn viết về câu chuyện giản dị, đời thường; có truyện ngắn giàu tính triết lí, trào phúng, châm biếm, hài hước, lại có truyện ngắn rất giàu chất thơ…
Link tham khảo:
Bài học em rút ra được sau khi đọc văn bản trên là gì?
Bài học em rút ra được sau khi đọc văn bản trên là gì?
Từ nội dung và ý nghĩa của văn bản, rút ra bài học phù hợp với bản thân.
Gợi ý:
– Làm con phải biết hiếu thảo, yêu thương cha mẹ.
– Phải trân trọng kí ức, quá khứ, đừng để mọi chuyện quá muộn.
Giải thích:
Nhân vật “anh” trong truyện đã nhận ra giá trị của tình mẹ quá muộn, khi mẹ không còn nữa. Sự ân hận ấy nhắc nhở chúng ta phải sống yêu thương và biết ơn cha mẹ ngay trong hiện tại để không phải tiếc nuối về sau.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?








Danh sách bình luận