Đề bài

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi:

THÁNG NĂM CỦA BÀ

Tháng năm có đàn chim ngói về ăn hạt trên cánh đồng bà ngoại

Trời thì xanh như không thể biếc hơn

Cháu đội nón đôi chân trần trên đất

Gặt về phơi cả ba tháng nhọc nhằn

 

Ba tháng nhọc nhằn nuôi mày lớn lúa ơi

Hoa cỏ may đan chéo bàn chân bà tứa máu

Mồ hôi xuống như mưa là tháng sáu

Lưng bà còng bông lúa trĩu như nhau

 

Bà ngoại trồng lúa, bà ngoại nhai trầu

Suốt một đời không đi ra ngoài mái đình bến nước.

Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được

Như hạt thóc nảy mầm trổ bông

 

Tháng năm này cánh đồng bà có nhiều chim ngói không

Lưng bà mỗi ngày lại gần hơn mặt đất

Cháu mong lắm được trở về đi gặt

Phơi giúp bà hạt giống để mùa sau

(Bình Nguyên Trang, Chỉ em và chiếc bình pha lê biết, NXB Hội nhà văn, 2003, tr. 87, 88)

Chú thích:

- Bình Nguyên Trang là bút danh của nhà văn Vũ Thị Quỳnh Trang, tác giả của nhiều tập thơ, truyện ngắn, ký chân dung. Thơ của Bình Nguyên Trang thường gắn bó với những cảm xúc rất đời thường nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ tinh tế, sâu sắc. Chủ đề trong các bài thơ của cô xoay quanh tình yêu, gia đình, và những trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống.

- Bài thơ này liên quan đến ký ức về bà và những tháng năm đáng nhớ trong cuộc đời của tác giả. Bài thơ gợi nhớ về hình ảnh người bà và những tháng năm gắn bó, đồng thời phản ánh sự tiếc nuối và lòng biết ơn đối với bà.

Câu 1

Xác định thể thơ trong bài thơ trên.

Phương pháp giải

Dựa vào đặc trưng thể loại

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Thể thơ tự do

Chú ý

Xem thêm các câu hỏi cùng đoạn
Câu 2

Liệt kê những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà.

Phương pháp giải

Đọc và xác định những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Những hình ảnh miêu tả sự vất vả của bà: bàn chân bà tửa máu, mồ hôi xuống như mưa, lưng bà còng

Chú ý

Câu 3

Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong hai câu thơ:

Nỗi vất vả ấy lấy gì mà đo được

Như hạt thóc nảy mầm trổ bông

Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp so sánh

Lời giải của GV Loigiaihay.com

- Biện pháp tư từ so sánh: Nỗi vất vả ấy như hạt thóc nảy mầm trổ bông

- Tác dụng:

+ Tăng tính sinh động, gợi hình, gợi cảm.

+ Làm rõ nỗi vất vả, khổ cực của bà trong cuộc sống

+ Từ đó tác giả bộc lộ niềm thương cảm cũng như thái độ trận trọng, biết ơn dành cho người bà đáng kính của mình.

Chú ý

Câu 4

Nêu cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

Phương pháp giải

Từ nội dung bài thơ rút ra cảm hứng chủ đạo

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Cảm hứng chủ đạo: nỗi xót xa và lòng biết ơn của người cháu đối với những vất vả, nhọc nhằn cùng sự hi sinh thầm của bà.

Chú ý

Câu 5

Sau khi đọc xong bài thơ Tháng năm của bà, hãy nêu một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em và lí giải.

Phương pháp giải

Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Gợi ý: Sự biết ơn và yêu thương đối với những người thân yêu, đặc biệt là bà ngoại, người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc và nuôi dưỡng cháu.

Chú ý

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...

Các bài tập cùng chuyên đề

Bài 1 :

Bài thơ về tiểu đội xe không kính có bố cục gồm mấy phần?

  • A.

    Gồm 3 phần

  • B.

    Gồm 4 phần

  • C.

    Gồm 5 phần

  • D.

    Gồm 6 phần

Xem lời giải >>

Bài 2 :

“Em bé đánh que diêm thứ tư, em bé "nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em". Khi em đánh tiếp những que diêm còn lại trong bao diêm, em thấy bà em to lớn và đẹp lão, bà em cầm lấy tay em, hai bà cháu vụt bay lên chầu Thượng đế"

(Cô bé bán diêm)

Ý nghĩa của mộng tưởng này là gì?

  • A.

    Khao khát tình thương của bà trao cho.

  • B.

    Muốn được trường sinh bất tử.

  • C.

    Muốn thoát khỏi cảnh ngộ đen tối "chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ nào".

  • D.

    Được gặp bà sống yên vui trong lòng bà.

Xem lời giải >>

Bài 3 :

Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm bài học gì?

  • A.

    Sức sống tiềm tàng của những con người vùng biển

  • B.

    Cần nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng

  • C.

    Nhẫn nại, cam chịu như người đàn bà làng chài để giữ hạnh phúc gia đình

  • D.

    Bài học về đấu tranh chống lại nạn bạo hành gia đình

Xem lời giải >>

Bài 4 :

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu hỏi:

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao

(Trích Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

(Trích Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)

Xem lời giải >>

Bài 5 :

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Ước mơ giống như bánh lái của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và không nhìn thấy được, nhưng nó điều khiển hướng đi của con người. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái, người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đám rong biển”.

(Theo Bùi Hữu Giao, Hành trang vào đời, trang 99, NXB Thanh Niên)

Xem lời giải >>

Bài 6 :

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn cỏ, mỗi cành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già

 (Bác ơi, Tố Hữu)

Xem lời giải >>

Bài 7 :

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

BỐN NGỌN NẾN

       Trong một căn phòng lặng thinh có bốn ngọn nến đang cháy. Ngọn nến thứ nhất nói:

- Tôi là biểu tượng của hòa bình, thế giới này rất cần tôi.

Ngọn nến thứ hai nói:

- Tôi là biểu tượng của lòng trung thành. Hơn tất cả, mọi người đều cần đến tôi.

Ngọn nến thứ ba lên tiếng:

- Tôi là biểu tượng của tình yêu, hãy tưởng tượng xem thế giới sẽ ra sao nếu không có tình yêu, thế giới thực sự rất cần đến tôi.

Đột nhiên, cánh cửa căn phòng mở tung, một làn gió lùa vào thổi tắt cả ba ngọn nến. Cậu bé chạy vào ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao ba ngọn nến lại tắt?

Cậu bé òa khóc, lúc này ngọn nến thứ tư mới lên tiếng:

- Đừng khóc cậu bé, khi nào tôi còn cháy sáng thì cậu vẫn còn có thể thắp sáng cả ba ngọn nến kia lại. Bởi vì tôi chính là hiện thân của hi vọng.

Lúc này, cậu bé không khóc nữa và cầm ngọn nến thứ tư lần lượt thắp sáng cả ba ngọn nến còn lại.     

 (Những câu chuyện khơi nguồn trí tuệ  - Trương Thiết Thành)

Xem lời giải >>

Bài 8 :

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU

     (1) Ngày 28-2-2021, anh Nguyễn Ngọc Mạnh, chàng trai 31 tuổi ở thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc (huyện Đông Anh, TP Hà Nội) - vốn là người lái xe tải chở hàng hoá bình thường - đã có một hành động phi thường gây chấn động cả giới truyền thông. (2) Nguyễn Ngọc Mạnh đã dũng cảm, mạnh mẽ và quan trọng hơn cả là đúng lúc, kịp thời làm nên phút giây huyền diệu cứu sống bé gái 3 tuổi rơi từ tầng 12A, tòa chung cư 60B Nguyễn Huy Tưởng, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. ...

    (3) “Tôi vừa cố trèo, vừa đưa tay ra cố gắng đỡ cháu. Điều tôi thấy hối hận nhất là không thể đỡ cháu được bằng cả hai tay để giảm thương tích cho cháu", anh Nguyễn Ngọc Mạnh hồi tưởng. ...

    (4) Muốn biết giá trị thật sự của 1/100 giây, hãy hỏi vận động viên điền kinh vừa đoạt huy chương bạc tại Olympic. (5) Nguyễn Ngọc Mạnh đã cho chúng ta biết giá trị thật sự của 1/100 giây, thậm chí ít hơn nữa khi lao mình lên mái tôn, cố gắng cao nhất giơ đôi tay để cứu em bé rơi xuống …

    (6) Thời gian như dòng sông cứ mải miết trôi. (7) Nhưng những phút giây huyền diệu thì sẽ luôn ngưng đọng mãi, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn và khiến chúng ta không thể nào quên.

(Trích: Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” lần thứ 12, Báo Quân Đội Nhâ Dân online- ngày 2/3/2021)

Xem lời giải >>

Bài 9 :

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Cho gươm mời đến Thúc lang

Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run

Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là

Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa"

(SGK Ngữ văn 9, tập một)

Xem lời giải >>

Bài 10 :

Bài học rút ra từ văn bản dưới đây là gì?

NGƯỜI ĂN XIN

Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.  Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông:

- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười:

- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. 

Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.

(Theo Tuốc-ghê-nhép) 

Xem lời giải >>

Bài 11 :

Kết cấu của bài thơ là gì?

Xem lời giải >>

Bài 12 :

Kết cấu của bài thơ được thể hiện ở những phương diện tổ chức nào trong tác phẩm?

Xem lời giải >>

Bài 13 :

Ngôn ngữ thơ có đặc điểm gì?

Xem lời giải >>

Bài 14 :

Vì sao bài thơ dễ dàng tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc và khắc sâu trong tâm trí họ?

Xem lời giải >>

Bài 15 :

Điền vào chỗ trống trong câu sau:

          Hình thức nghệ thuật của văn bản là cách …… mọi yếu tố (bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biên pháp tu từ, vần, nhịp…) nhằm tạo nên…… của tác phẩm

Xem lời giải >>

Bài 16 :

Trong khổ thơ sau, tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh nào? Tác dụng của nó là gì?

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

(Tế Hanh, Quê hương)

Xem lời giải >>

Bài 17 :

Xác định một vài biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của chúng:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...

(Bằng Việt, Bếp lửa)

Xem lời giải >>

Bài 18 :

Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ Quê hương (Tế Hanh)

Xem lời giải >>

Bài 19 :

Vẽ sơ đồ bố cục của bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt)

Xem lời giải >>

Bài 20 :

Chỉ ra một vài nét đặc sắc của kết cấu bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt).

Xem lời giải >>

Bài 21 :

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

NÓI VỚI CON

Y Phương

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.


Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.

Xem lời giải >>

Bài 22 :

So sánh sự khác nhau của cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong văn bản nghị luận dựa vào bảng sau (làm vào vở):

Cách trình bày vấn đề khách quan

Cách trình bày vấn đề chủ quan

Đặc điểm

Tác dụng

Ví dụ

Xem lời giải >>

Bài 23 :

Phân tích sự kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn văn sau:

       Chủ đề cách ứng xử với thiên nhiên được tô đậm hơn qua những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Hoài. Ban đầu, Hoài chưa hiểu quyết định trả tự do cho chim bống chanh đỏ, nên đã trách anh Hiến. Lời nói của anh đã thức tỉnh Hoài, đồng thời thức tỉnh chúng ta - những người đọc: “Nếu có đứa nào phá rối nhà mày thì mày tính sao... Vậy thì mày có muốn đóng vai thằng ăn cướp đối với gia đình con bồng chanh không?”. Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chim bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người. Vì thế, những điều ta không muốn xảy đến với mình, ta đừng gây ra cho tự nhiên và các loài vật. Từ đó, Hoài “thương đôi bồng chanh bây giờ đã tha con đến một cánh  đồng nào, ở một đầm nước xa lạ, chúng lại cùng nhau xây tổ để tránh mưa tránh nắng...”. Tình thương ấy xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn. Vì hành động nhất thời của hai anh em, chim bồng chanh đã phải bỏ tổ để đi nơi khác. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩn trọng khi ứng xử với thiên nhiên, vì bất kì hành động vô tâm nào cũng có thể gây ra những tổn thương đối với muôn loài.

              (Trích Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn Bồng chanh đỏ, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

Xem lời giải >>

Bài 24 :

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

                                                          Nguyễn Đình Thi

       Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.

         Nguyễn Du viết:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thoả mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na5 (Anna Karenina) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn còn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vất những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.

       Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. [...] Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí, triết học, mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phần khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đương hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn.

          [...] Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.

          Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hoá thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ vẫn nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống, và cuộc sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao". [...] Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

         Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một mình trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Những nghệ sĩ không đến mở cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng lại trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thẩm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy. [...]

                         (Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)

a. Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn “Lời gửi của nghệ thuật…cách sống của tâm hồn.”

b. Luận đề của văn bản là gì? Xác định bố cục và luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý sau:

Bố cục

Luận điểm

Phần 1 (Từ đầu đến “cách sống của tâm hồn”

Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ.

Phần 2 …

...

Phần 3 …

....

c. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Những lí lẽ, bằng chứng trong đoạn cuối văn bản đã làm sáng tỏ luận đề như thế nào?

d. Em ấn tượng nhất với đoạn văn nào trong bài viết? Hãy chia sẻ ấn tượng ấy với các bạn.

đ. Có bạn trẻ cho rằng: Khi đọc tác phẩm truyện, chỉ cần tập trung vào cốt truyện cho thỏa trí tò mò là đủ. Em có đồng ý với cách đọc này không? Từ nội dung văn bản và trải nghiệm đọc của bản thân, hãy trao đổi với bạn về cách đọc mà em cho là phù hợp nhất.

Xem lời giải >>

Bài 25 :

 Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử là gì?

Xem lời giải >>

Bài 26 :

Vẽ sơ đồ xác định cấu trúc của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử.

Xem lời giải >>

Bài 27 :

Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn trình bày thông tin theo (những) cách nào? Vì sao?

Xem lời giải >>

Bài 28 :

Bài phỏng vấn là gì? Có mấy cách phân loại bài phỏng vấn?

Xem lời giải >>

Bài 29 :

Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn.

Xem lời giải >>

Bài 30 :

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

                                              Theo Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh

Đất Mũi Cà Mau – nơi cực Nam của đất nước được khai phá vào cuối  thế kỉ XVIL đầu thế kỉ XVIII, gắn liền với sự quản tụ của ba dân tộc: Kinh, Hoa, Kh mẻ. Do vậy, nơi đây có sự giao thoa những nét sinh hoạt văn hóa đa sắc tộc được thể hiện qua nhiều phong tục, tập quân phong phú và đặc sắc.

        Xưa có người kể rằng, những cư dân nơi Mũi Cà Mau là những người hùng ở phía Bắc vì không chịu được sự bóc lột của đế quốc phong kiến đã bỏ làng, bỏ đất mà đi về phương Nam. Họ cứ đi, đi mà đặc biệt Cà Mau, mảnh đất cuối cùng của đất nước vốn được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi và dừng lại để sinh cơ, lập nghiệp. Càng gắn bó với đất, với rừng, họ càng thấu hiểu câu nói: "Đất lành chim đậu", "Rừng là vàng, biển là bạc"....

      Lịch sử hình thành, vị trị toạ lạc, diện tích

       Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002, nằm trên địa bàn huyện Năm Căn và Ngọc Hiến, tỉnh Cà Mau, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 400km, nơi có cột mốc cuối cùng của Việt Nam trên đất liền, với tổng diện tích: 41862 ha, trong đó diện tích trên đất liền là 15 262 ha, diện tích ven biển là 26 600 ha – một vùng đất ngập mặn với quần thể thực vật chiếm ưu thế là cây đước, cây mắm³. Đây là một hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hoá và lịch sử.

      Đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và vùng châu Á - Thái Bình Dương, du khách có thể thoả sức khám phá, tìm hiểu những nét đặc trưng độc đáo về địa lí tự nhiên và địa mạo tạo nên vùng sinh thái của sông, ven biển có một không hai ở Việt Nam.

              Sẽ thật là thú vị khi bạn được lênh đênh bằng xuồng máy trên các sông, rạch, với những buổi đi xuyên rừng đước, thoả thích chụp ảnh các loài chim, thú, hít thở bầu không khí trong lành và lắng nghe những âm thanh vọng về từ cây lá, chim muông,... Du khách cũng sẽ rất ngạc nhiên và thích thú khi được biết Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm" với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện. Nơi đây hiện có hơn 100 loài động vật quý hiếm đang sinh sống.

            Quần thể động thực vật phong phú

             Do điều kiện thiên nhiên đặc trưng nên hệ động vật của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau rất phong phú, đa dạng với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ, trong đó có hai loài trong Sách đỏ thế giới IUCN là khỉ đuôi dài và con cà khu². Một số loài phổ biến thường gặp là rái cá, sóc, chồn, khỉ,... Hằng năm, vào tháng Tám, những đàn chim di cư về rừng đước làm tổ, sóm chiều theo con nước kiếm ăn, bầu trời rừng đước lại rộn rã như ngày hội. Lớp chim ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có hơn 74 loài thuộc 23 họ, trong đó có 5 loài có trong Sách đỏ của IUCN gồm cò Trung Quốc, bỏ nông chân xám, giang sen, rẽ mỏ cong hông nâu và quấn trắng.

          Theo thống kê của các nhà khoa học ở Đất Mũi, mỗi năm đất nơi đây lấn biển khoảng 100 mét, đi theo quá trình bồi tụ là sự sống của cây có và các loài sinh vật. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nơi đây bạt ngàn rừng ngập mặn, tiếng lá cây và tiếng gió biển hoà quyện vào nhau trong một không gian thanh bình, yên ả.

          Phải đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau mới thấy hết vẻ đẹp của những dãy rừng ngập mặn trù phú dọc theo bờ biển và bờ sông như những bức tường phòng hộ, chống gió, chống xói lở. Những loài cây ngập mặn tiên phong có tác dụng thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa, tích tụ mới ở biển. Điều kiện tự nhiên nơi đây cũng đã ngẫu nhiên tạo ra một môi trường sinh trưởng, phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể.

          Mũi đất hướng ra biển

           Nhìn trên bản đồ Việt Nam, mùi đất chỉ là một doi đất hơi nhọn hướng ra biển về phía tây, nhưng thực tế tại đây lại là một khoảng không gian rộng lớn, nơi đất mới bồi là một bãi sình lầy bằng phẳng, sâu trong đất liên là rừng đước xanh ngút ngàn. Phải phóng tầm mắt thật xa mới thấy thấp thoáng xóm Đất Mũi nằm lẫn với rừng cây. Còn khi nhìn về phía biển trong cái nắng chói chang có thể thấy mờ mờ hình dáng Hòn Khoai ngoài khơi xa. Không những thế, từ vọng hải đài, phóng tầm mắt ra khơi, quay mặt hứng luồng gió biển lồng lộng, hít thật sâu vào hai lá phối, du khách tưởng chừng như ngửi được mùi cá, mùi muối đặc trưng của vùng nước mặn mà từ đó cảm thấy Tổ quốc mình thật gần gũi, mến yêu.

            Đất Mũi được nhắc đến như một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú. Đến với Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biến, tham quan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến; chụp hình dưới chân biểu tượng Mũi Cà Mau và được chiêm ngưỡng nhiều điều kì thú khi hoàng hôn buông xuống, ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la. Bên trái là biển Đông, bên phải là biển Tây, đứng ở Mũi Cà Mau, du khách như đang đứng trên mũi tàu khổng lồ của Tổ quốc rẽ sóng ra khơi.

                                  (Theo Hỏi – đáp về những cánh rừng và vườn quốc gia Việt Nam, Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh, NXB Quân đội nhân dân, 2009, tr. 178-181)

Xem lời giải >>