Đọc văn bản:
Nếu không muốn đi hết con đường...
Thì nên dừng lại trước lúc kịp hoàng hôn
không ai bắt ta phải sống cuộc đời cho
người khác muôn triệu tình yêu có muôn
triệu lần đích đến
làm ơn đi mà!...
Khi ta khóc không cần ai lau nước mắt cho
ta? khi ta cười không cần ai chia sẻ?
cần một quãng đời tự do hơn là cần một hơi
ấm mặc cả hãy thử cắn chặt môi...
Giữa mùa đông đôi khi một cơn bão tuyết
còn quí hơn một đốm lửa trong tim người
Giữa nỗi đau biết đâu lại tìm ra một sự bình yên khác
Giữa đêm đen cũng phải đến lúc tự ta làm ra ánh sáng
Giữa những ngày qua phố đôi khi cần một lần lạc
bước đi khỏi cuộc đời của mình...
Nếu không muốn đi hết con đường...
Thì nên dừng lại, rồi bước đi một con đường khác
bằng niềm tin đừng bắt ta phải sống cho hạnh phúc
của người khác
(khi hạnh phúc của ta chỉ là bề ngoài của những giọt
nước mắt cay đắng như một hạt mưa giữa trời nắng
gắt...)
làm ơn đi mà!...
(....)
(Trích Nếu không muốn đi hết con đường - Thơ
Nguyễn Phong Việt)
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Theo tác giả, “Nếu không muốn đi hết con đường” thì nên làm gì?
Câu 3. Hãy phân tích hiệu quả của phép điệp trong đoạn thơ sau:
Giữa mùa đông đôi khi một cơn bão tuyết còn quí hơn một đốm lửa trong tim người
Giữa nỗi đau biết đâu lại tìm ra một sự bình yên khác
Giữa đêm đen cũng phải đến lúc tự ta làm ra ánh sáng
Giữa những ngày qua phố đôi khi cần một lần lạc bước
đi khỏi cuộc đời của mình...
Câu 4. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của tác giả “Nếu không muốn đi hết con đường.... thì nên dừng lại, rồi bước đi một con đường khác bằng niềm tin” không? Vì sao?
Đọc kĩ văn bản và vận dụng kiến thức về đặc trưng thể thơ tự do
Câu 1:
Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2:
Theo tác giả, "Nếu không muốn đi hết con đường" thì nên:
- Dừng lại trước lúc hoàng hôn
- Bước đi một con đường khác bằng niềm tin
Câu 3:
Hiệu quả của phép điệp ("Giữa...") trong đoạn thơ:
- Nhấn mạnh sự đối lập và nghịch lý trong cuộc sống:
+ "Giữa mùa đông... bão tuyết còn quý hơn đốm lửa" → Đôi khi khắc nghiệt lại mang giá trị hơn an toàn giả tạo.
+ "Giữa nỗi đau... bình yên khác" → Đau khổ có thể dẫn đến giác ngộ.
+ "Giữa đêm đen... tự làm ánh sáng" → Con người phải tự cứu lấy mình.
+"Giữa những ngày qua phố... lạc bước" → Đôi khi lạc lối lại là cách giải thoát.
- Tạo nhịp điệu dồn dập cho đoạn thơ
Câu 4:
Gợi ý:
* Đồng tình:
- Cuộc sống không phải đường thẳng, dừng lại hoặc đổi hướng là cách tránh lãng phí thời gian vào những điều không phù hợp.
- Niềm tin vào bản thân giúp ta can đảm chọn lối đi mới, như tác giả viết: "đừng bắt ta phải sống cho hạnh phúc của người khác".
* Không đồng tình:
- Nếu ai cũng dễ dàng "dừng lại" khi gặp khó khăn, xã hội sẽ thiếu đi sự kiên trì – yếu tố quan trọng để thành công.
- Cần phân biệt giữa từ bỏ đúng lúc và trốn chạy thực tế.

Các bài tập cùng chuyên đề
Bài 1 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
…“Đất nước
Của những dòng sông
Gọi tên nghe mát rượi tâm hồn
Ngọt lịm những giọng hò xứ sở
Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa
Đất nước
Của những người mẹ
Mặc áo thay vai
Hạt lúa củ khoai
Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu
Đất nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt”…
(Trích “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi!”, Nam Hà)
Bài 2 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
(Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc ở Trường Sa)
Bài 3 :
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
MẸ
Con về thăm mẹ chiều mưa,
Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên.
Giọt mưa sợi thẳng, sợi xiên.
Cứ nhằm vào mẹ những đêm trắng trời.
Con đi đánh giặc một đời,
Mà không che nổi một nơi mẹ nằm.
(Tô Hoàn)
Bài 4 :
Lập bảng tổng hợp về những loại văn học đã được học trong SGK Ngữ văn 12, tập 1. Kể tên các tác phẩm cụ thể thuộc từng loại, thể loại đó
Bài 5 :
Nêu khái quát những kiến thức mới về loại văn bản, thể loại văn học được trình bày ở phần Tri thức Ngữ văn của từng bài học.
Bài 6 :
Lập bảng đối sánh phong cách cổ điển, phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn trong sáng tác văn học. Nêu tên một số tác phẩm cụ thể thuộc từng phong cách đó
Bài 7 :
Nêu các nội dung thực hành tiếng Việt đã thực hiện trong học kì I và làm rõ tác dụng của các nội dung thực hành ấy đối với việc đọc hiểu văn bản ở từng bài học.
Bài 8 :
Xác định những yêu cầu chung và yêu cầu riêng của các kiểu bài viết được thực hiện ở Bài 1, Bài 2, và Bài 4 bằng một sơ động phù hợp.
Bài 9 :
Chỉ ra những yêu cầu mới của việc viết một báo cáo nghiên cứu ở lớp 10 và lớp 11
Bài 10 :
Nêu những nội dung của hoạt động nói và nghe được thực hiện trong học kì I
Bài 11 :
Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?
Bài 12 :
Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?
Bài 13 :
“Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?
Bài 14 :
Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?
Bài 15 :
Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Bài 16 :
Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.
Bài 17 :
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
Bài 18 :
Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.
Bài 19 :
Nội dung 1: Thuyết trình về một tác phẩm truyện có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.
Bài 20 :
Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó ( nếu có)
Bài 21 :
Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức Ngữ văn ở mỗi bài học trong SGK Ngữ văn 12, tập 2. Nêu tác dụng thiết thực của việc nắm bắt các khái niệm then chốt được giới thuyết ở phần Tri thức Ngữ văn đối với việc đọc hiểu các văn bản trong từng bài học.
Bài 22 :
Các văn bản đọc trong Bài 6 ( Hồ Chí Minh-“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”) thuộc những văn bản và thể loại nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về thể loại, thể loại của các văn bản được chọn học ở đây, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng của bài học về tác gia.
Bài 23 :
Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc.
Bài 24 :
a.Vẽ lại sơ đồ trên giấy khổ lớn ( có thể theo một hình thức khác, những vẫn đảm bảo được các thông tin chính)
b.Ghi tên một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô phù hợp trong sơ đồ
c.Ghi tên một số tác phẩm văn học viết Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô. Lưu ý ghi kèm tên tác giả, thể loại; đối với văn học trung đại Việt Nam, cần để rõ tác phẩm thuộc loại hình sáng tác chữ Hán hay chữ Nôm
d.Nêu nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam dựa trên những thông tin đã được điền bổ sung trong sơ đồ vẽ lại.
Bài 25 :
Liệt kê những kiểu bài viết đã được luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào trong số đó có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?
Bài 26 :
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe đã được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về mặt kiến thức và kĩ năng so với hoạt động đó ở các lớp dưới
Bài 27 :
Xác định ý nghĩa ẩn dụ trong hình ảnh “lửa bên trong” và vấn đề chính được tác giả đề cập trong văn bản
Bài 28 :
Khi viết bài Lửa bên trong, tác giả hướng tới đối tượng độc giả nào trước hết? Căn cứ cho phép khẳng định điều đó là gì?
Bài 29 :
Tóm tắt những luận điểm chính của văn bản. Khái niệm “cuộc đời lớn” có mối liên quan như thế nào tới cảm hứng viết và lập luận của tác giả?
Bài 30 :
Theo tác giả, đối với đời sống của mỗi con người, “lửa bên trong” có ý nghĩa gì?