Đọc ngữ liệu dưới đây:
BÀI HỌC ĐI CÂU
Ông nội vẫn im lìm như một tảng đá nghìn vạn tuổi. Trong khi tôi nóng lòng muốn xổ lồng thì ông vẫn cặm cụi với nào lưỡi, nào cước, nào mồi... rồi xem sao, nếm gió để quyết định hôm sau đi về hướng nào, mang loại cần gì.
Ông nội tôi là nghệ nhân câu cá. Từ bé tôi đã thấy ông gắn với chiếc cần câu. Vẻ im lặng bí ẩn của ông vừa an nhàn, vừa có cái gì đó giống như sự cam phận.
Không khỏi có lúc tôi thầm nghĩ: Làm đấng nam nhi mà chỉ quanh quẩn như ông nội thì kể cũng chán. Chính ông nội khiến tôi luôn mơ về biển cả. Nơi ấy chẳng có bến bờ, mới thực sự là nơi vẫy vùng thỏa chí. Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình.
Thế là hằng đêm biển theo tôi vào giấc ngủ. Tiếng gào hú của sóng làm tôi cồn cào hướng mắt về phía chân trời.
Ông nội vẫn im lìm như một tảng đá nghìn vạn tuổi. Trong khi tôi nóng lòng muốn xổ lồng thì ông vẫn cặm cụi với nào lưỡi, nào cước, nào mồi... rồi xem sao, nếm gió để quyết định hôm sau đi về hướng nào, mang loại cần gì. Riêng về chuyện đó thì tôi phục ông tôi sát đất.
Một hôm tôi quyết định thử đi câu cùng với ông. Tôi vác theo chiếc sào to tướng dùng làm cần. Tôi móc con giun béo nhẫy làm mồi. Tôi cũng thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im. Thật là tẻ nhạt và tù túng. Cuối buổi tôi dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ỹ xuống nước.
Hôm sau tôi xin ông để tôi được ra đi. Ông vẫn im lặng nhìn tôi, không tỏ ra bực tức hay vui mừng. Hình như ông rất muốn thở dài.
- Đi để thử sức thì cũng tốt - Ông chỉ bảo có vậy.
Tôi ra biển như mơ ước suốt thời bé. Tôi bỏ theo một tầu đánh cá với hy vọng sẽ bắt được cá kình. Trước mặt tôi giờ đây chỉ có đường chân trời. Nhưng chỉ được một thời gian tôi mới vỡ lẽ ra rằng không có gì chán cho bằng cứ lênh đênh trên biển. Tôi cồn cào nhớ đất liền, trong khi cá kình vẫn mất hút. Không ai, ngay cả tôi, ngờ được lại có ngày tôi tơi tả như một kẻ thất trận. Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi:
- Cháu về rồi à?
- Cháu về để theo nghề của ông.
Ông tôi bắt đầu truyền nghề cho tôi. Ông cho tôi một chiếc cần đủ cước, lưỡi nhưng không có mồi. Ông bảo cứ thả xuống câu, mắt không được rời phao. Tôi làm theo ông, thoạt đầu ruột gan như có lửa cháy.
Ông bảo không được nóng vội. Rồi tôi ngồi qua một tuần, chỉ muốn phát điên. Bài học nhập môn gì mà cay nghiệt thế. Rồi tôi cũng qua được một tháng, lòng gan đã dịu lại. Qua hai tháng, cảnh vật trở nên hiền hòa, mặt nước thôi nghiêng ngả. Qua ba tháng thì tôi không còn thấy cả chiếc cần câu đâu nữa. Bấy giờ ông tôi mới bảo:
- Giờ thì cháu có thể đi câu cá kình được rồi.
Tôi giật mình, mồ hôi túa ra. Tôi lại đi ra biển. Quả như ông nói biển không hề có sóng.
(Tạ Duy Anh)
Truyện được kể ở ngôi thứ mấy?
Truyện được kể ở ngôi thứ mấy?
Quan sát lời kể của người kể chuyện; chú ý đại từ xưng hô và vị trí của người kể trong câu chuyện.
Ngôi thứ nhất
Giải thích:
Người kể chuyện xưng “tôi”, trực tiếp tham gia vào các sự việc và kể lại những trải nghiệm, cảm xúc của bản thân khi đi câu cùng ông nội và ra biển.
Ngôi kể thứ nhất, khi tự xưng “tôi”, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra những cảm tưởng, ý nghĩ của mình.
Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Chỉ ra mối quan Về nghĩa giữa các vế của câu văn: “Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình”.
Chỉ ra mối quan Về nghĩa giữa các vế của câu văn: “Tôi cũng sẽ theo nghề câu như ông nội nhưng mà tôi câu cá kình”.
Xác định các vế câu và từ nối giữa chúng; phân tích nội dung của từng vế để chỉ ra quan hệ ý nghĩa.
- Quan hệ: đối lập/ tương phản.
- Vế đầu thể hiện sự tiếp nối truyền thống ><Vế sau thể hiện ước mơ vượt ra ngoài khuôn khổ, khát vọng lớn lao.
Giải thích:
Từ nối “nhưng mà” cho thấy hai ý trong câu có sự đối lập: nhân vật “tôi” muốn theo nghề câu của ông nhưng không muốn chỉ quanh quẩn như ông mà muốn chinh phục biển lớn, câu cá kình.
- Đối: là biện pháp tu từ, theo đó người viết (người nói) xếp đặt những từ ngữ hoặc câu có đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp tương tự hoặc tương phản nhau ở những vị trí đối xứng trong câu hoặc trong văn bản để gợi ra một nội dung hoàn chỉnh, làm nổi bật một ý nghĩa nhất định
- Tác dụng: tạo nên vẻ đẹp cân xứng, hài hoà cho lời thơ, câu văn
Link tham khảo: Khái niệm biện pháp tu từ đối và tác dụng
Chỉ ra hình thức ngôn ngữ của lời thoại in đậm dưới đây: Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi: - Cháu về rồi à? - Cháu về để theo nghề của ông.
Chỉ ra hình thức ngôn ngữ của lời thoại in đậm dưới đây: Ông tôi vẫn không mừng, không buồn, tựa như việc tôi ra đi hay trở về chẳng khiến ông bận tâm, chỉ hỏi: - Cháu về rồi à? - Cháu về để theo nghề của ông.
Dựa vào đặc điểm lời nói của nhân vật trong giao tiếp hằng ngày để xác định hình thức ngôn ngữ.
Ngôn ngữ sinh hoạt ⇒ dạng đối thoại thường ngày giữa ông cháu, mang tính tự nhiên, thân mật, đời thường
Giải thích:
Đây là cuộc trò chuyện trực tiếp giữa ông và cháu với cách nói tự nhiên, ngắn gọn, gần gũi đời thường nên mang đặc điểm của ngôn ngữ sinh hoạt.
- Trong truyện ngắn, lời người kể chuyện nhằm giới thiệu, miêu tả nhân vật, bối cảnh; bình luận, dẫn dắt câu chuyện, tạo thành giọng chủ đạo của truyện.
- Lời nhân vật là phương tiện bộc lộ ý nghĩ, tâm trạng, cá tính của nhân vật trong từng tình huống cụ thể, góp phần thể hiện phẩm chất, tính cách nhân vật.
Link tham khảo: Lời người kể chuyện và lời nhân vật trong truyện ngắn
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Ông nội vẫn im làm như một tảng đá nghìn vạn tuổi.”
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Ông nội vẫn im làm như một tảng đá nghìn vạn tuổi.”
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn; phân tích đặc điểm được so sánh và tác dụng biểu đạt.
Biện pháp tu từ so sánh làm nổi bật tính cách điềm tĩnh, kiên định và giàu trải nghiệm của người ông. Gợi sự kính trọng và cảm giác huyền bí mà nhân vật “tôi” dành cho ông.
Giải thích:
Tác giả so sánh ông nội với “một tảng đá nghìn vạn tuổi” nhằm gợi lên hình ảnh một con người giàu kinh nghiệm, bền bỉ, ít bộc lộ cảm xúc nhưng sâu sắc và vững chãi.
- So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.
- Cấu trúc hoàn chỉnh phép so sánh: SV1 + PHƯƠNG DIỆN SO SÁNH + TỪ NGỮ SO SÁNH + SV2
- Dấu hiệu nhận biết các kiểu so sánh:
+ So sánh ngang bằng: như, là, bằng, tựa,...
+ So sánh không ngang bằng: chưa bằng, chẳng bằng, hơn, kém,..
Khi phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong một ngữ liệu đã cho, ta cần chỉ ra ít nhất 2 tác dụng dựa vào gợi ý sau:
+ Tác dụng nghệ thuật: giúp cho câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, tăng sức gợi hình gợi cảm,...
+ Tác dụng nội dung: Nhấn mạnh/ Làm nổi bật đối tượng hoặc đặc điểm nào của đối tượng?
+ Tác dụng biểu cảm: Tác giả bày tỏ thái độ, tình cảm, cảm xúc gì về đối tượng? Tác giả khơi gợi cho người đọc cảm xúc gì?
Một số link tham khảo:
Thử đi câu cùng với ông, nhân vật “tôi” “thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im”, cảm thấy “tẻ nhạt và tù túng” để rồi cuối buổi “dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ĩ xuống nước”. Điều này cho thấy tính cách nào của nhân vật?
Thử đi câu cùng với ông, nhân vật “tôi” “thả lưỡi xuống nhưng tâm trí chẳng tập trung nổi vào chiếc phao cứ lì lợm đứng im”, cảm thấy “tẻ nhạt và tù túng” để rồi cuối buổi “dứt cước ném đi, dùng cần khua ầm ĩ xuống nước”. Điều này cho thấy tính cách nào của nhân vật?
Dựa vào hành động, cảm xúc và thái độ của nhân vật trong quá trình đi câu để nhận xét tính cách.
Tính cách hơi nóng vội, thiếu kiên nhẫn, bồng bột và chưa thấu hiểu sâu sắc ý nghĩa của việc đi câu cũng như cuộc sống.
Cách giải:
Nhân vật “tôi” là người nóng vội, thiếu kiên nhẫn, bồng bột và chưa hiểu được ý nghĩa thực sự của việc đi câu cũng như những bài học trong cuộc sống.
Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; cốt truyện thường không chia thành nhiều tuyến; chi tiết cô đúc; lời văn mang nhiều ẩn ý;…
- Truyện ngắn thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật.
- Tính cách nhân vật là những đặc điểm riêng tương đối ổn định của nhân vật, được bộc lộ qua mọi hành động, cách ứng xử, cảm xúc, suy nghĩ,… Tính cách nhân vật còn được thể hiện qua các mối quan hệ, qua lời kể và suy nghĩ của nhân vật khác.
Link tham khảo: Nhân vật và tính cách nhân vật trong truyện
Từ “bài học đi câu” mà người ông đã dạy cho nhân vật “tôi”, em có thể rút ra cho bản thân mình những bài học nào trong cuộc sống?
Từ “bài học đi câu” mà người ông đã dạy cho nhân vật “tôi”, em có thể rút ra cho bản thân mình những bài học nào trong cuộc sống?
Liên hệ nội dung câu chuyện với thực tế cuộc sống; rút ra bài học phù hợp từ trải nghiệm của nhân vật.
Bài học: Để chạm tới thành công trong cuộc sống, mỗi người cần trải qua quá trình rèn luyện bền bỉ, tích lũy trải nghiệm và học hỏi từ những lần vấp ngã. Quan trọng hơn, đó là phải giữ vững sự kiên trì, nhẫn nại và biết làm chủ cảm xúc của chính mình.
Giải thích:
Người ông không dạy cháu bằng lời nói dài dòng mà bằng trải nghiệm thực tế. Quá trình ngồi câu suốt nhiều tháng giúp nhân vật “tôi” học được sự điềm tĩnh và trưởng thành trong suy nghĩ.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?








Danh sách bình luận