Đề bài

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:

DẤU CHÂN (Nguyễn Quang Sáng(1))

(Tóm lược phần đầu: Người mẹ là một cô giáo trẻ làm hiệu trưởng của một ngôi trường ở quê nội của con. Cô có thói quen viết nhật ký cho con, một cậu bé 4 tuổi rất dễ thương. Trong những trang nhật kí ấy là những câu chuyện cuộc sống quanh mình lúc bấy giờ. Câu chuyện được kể dưới đây là vào ngày hôm khi đi làm về, cô thấy nhiều người đào bới trong vườn nhà mình).

Cô gái và người đàn ông đào được, hai người lột lấy cái khăn buộc qua đầu, lau đi lau lại cái vật quý. Nhìn rõ, mẹ thấy đó là hai viên gạch. Đúng là hai viên gạch, gạch dùng để lót sân, hình chữ nhật, làm bằng đất sét, đem nung. Có gì mà họ phải tốn công sức và vui mừng đến vậy! Mẹ bước lại gần hơn.

Một người bảo:

- Đem xuống nước rửa cho sạch đất đi!

Một người đứng bên khoát tay:

- Không được! Lay khan ướt mà lau!

Rồi hai người lột khăn mình, đến mé hố bom, nhúng khăn, hai người lau đi lau lại thật cần thận. Người đàn ông và cô gái, sau khi lau hai viên gạch hết đất trao cho người già nhất:

- Đây nè, bác Bảy, đúng rồi!

Bác Bảy, một ông lão độ hơn bảy mươi, nhưng hãy còn rắn rỏi, lão mặc quần đùi theo kiểu xưa dài đến tận gối, mình trần nhễ nhại mồ hôi, chòm râu bạc, đầu bịt khăn khấc (2), nhìn hai viên gạch hồi lâu, lão bỗng đưa bàn tay gầy guộc lên bụm mặt, khóc rưng rức. Thấy lạ, con hỏi mẹ nhưng mẹ không để ý đến câu hỏi của con. Mẹ bồng con bước gần lại, đứng bên cạnh cô gái.

Ông lão khóc không lâu, ông lau nước mắt bằng hai ngón tay, ông cầm hai viên gạch, lật ngửa, hai viên gạch trước mặt mọi người:

- Các cháu xem, - Giọng ông không nghẹn nhưng xúc động - đúng là dấu chân của chú Ba quận ủy.

Đến lúc ấy, mẹ mới nhìn thấy rõ, trên mặt của hai viên gạch còn hằn lại đường nét của hai bàn chân, dấu chân hằn xuống không sâu lắm - mẹ không thể nói chính xác là bao nhiêu ly - nhưng dấu chân hằn xuống hai viên gạch trông thật rõ. Cả hình dáng của bàn chân: cái gót sau, các mép chân, mặt trước của bàn chân, và cả năm ngón. Không thật sâu, thật rõ nhưng mẹ hãy còn nhìn thấy những đường chỉ của bàn chân.

- Các cháu! - Ông Bảy nhìn người đứng chung quanh như nhìn một đàn con trước khi nói:

- Từ năm 1954 đến 1968, mười bốn năm. Ở đây, bao nhiêu người bị bắt, bị tù đày, bị bắn, bị đưa lên máy chém; bao nhiêu cơ sở bị đánh bật ra ngoai. Chú Ba, mười bốn nam vẫn đứng, vẫn trụ lại ở đất này để nam quần chúng, dựng phong trao. Suốt bao nhiêu năm, từ 1954 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chỗ này, chợ quận này, mới thoát ra khỏi vòng kềm kẹp (3) và rào kẽm gai của bọn chúng. Ban đêm, chú Ba đi hoạt động, chú tìm đến từng nhà, từng cơ sở. Ban ngày thì chú trở về hầm bí mật. Nhờ đó mà dù cho Mỹ có đồ quân, có xây căn cứ ở đất này, dân ở đây vẫn tin, ở đây, còn có chú Ba, còn có Cách mạng. Hôm chú đào hầm bí mật, chú đến hỏi bác xin hai viên gạch. Bác lựa hai viên gạch nguyên, chắc trước thềm nhà bác, bác cạy lên, trao cho chú. Xuống hầm bí mật, chú ngồi, chỉ ngồi thôi. Chú ngồi trên cái ghế còn hai viên gạch này chú dùng để đặt hai bàn chân. Đất ở xứ này cận sông đào xuống, đất ẩm ướt lắm, chân mà để dưới đất lâu ngày sẽ bị bịnh(4) thấp.

Mười bốn năm, bác già, còn nhớ gì đến hai viên gạch? Mà có gì đáng để cho bác nhớ. Đến năm Mậu Thân 68 chú Ba thoát lên mặt hầm, làm chính ủy mặt trận cánh Nam đánh vào Sài Gòn. Chú đến nói với bác:

- Bác Bảy à! Lần này thì cháu thoát hầm bí mật. Nếu cháu không trở về, sau này bác nhớ moi hầm của cháu, giữ hai viên gạch lại.

Nghe lời từ giã của chú, bác xót xa, bác cắt ngang rồi nạt chú:

- Miệng ăn mắm, ăn muối, nói tầm phào!

Chú không giận mà cười:

- Hai viên gạch đó ...

Bác không để chú nói hết lời, bác lại cắt:

- Mày tưởng tao tiếc hai viên gạch đó lắm sau Ba?

- Dạ, cháu không phải nói vậy, mà hồi nãy, trước khi lên hầm, cháu bấm đèn pin, cháu thấy mười bốn năm, mà ngày nào cũng như ngày nào, cháu cũng đặt hai bàn chân lên hai viên gạch, nên hai viên gạch còn lại dấu vết của cháu ....

Con yêu! Lúc mẹ nghe kể, mẹ nghĩ: Mười bốn năm, sức mạnh của thời gian trong đôi chân đã để lại hai viên gạch này: dấu chân, dấu chân người chiến sĩ cách mạng.

Ông lão thận trọng trao hai viên gạch lại cô gái. Mẹ biết, cô gái ấy là cán bộ tuyên huấn của quận, cô đang lãnh trách nhiệm xây nhà truyền thống.

Cô kéo chiếc khăn rằn(5) đang đội gói lấy hai viên gạch.

[ ... ]

(Nguyễn Quang Sáng, Tuyển tập truyện ngắn đặc sắc, NXB Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh)

Câu 1

Xác định ngôi kể của người kể chuyện

Phương pháp giải

Chú ý đại từ xưng hô và cách người kể dẫn dắt câu chuyện để xác định ngôi kể.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Ngôi kể thứ nhất

Giải thích:

Người kể chuyện xưng là “mẹ”, kể lại câu chuyện cho “con” nghe qua những câu như: “mẹ thấy”, “mẹ bước lại gần hơn”, “con hỏi mẹ”…

Mở rộng

Ngôi kể thứ nhất, khi tự xưng “tôi”, người kể có thể trực tiếp kể ra những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua, có thể trực tiếp nói ra những cảm tưởng, ý nghĩ của mình.

Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể


Xem thêm các câu hỏi cùng đoạn
Câu 2

Chỉ ra đề tài của văn bản

Phương pháp giải

Đọc kĩ nội dung văn bản, xác định vấn đề chính mà tác giả muốn nói tới.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Đề tài: Ca ngợi người chiến sĩ cách mạng và cuộc kháng chiến gian khổ, bền bỉ của nhân dân miền Nam trong những năm chống Mỹ, thể hiện qua hình ảnh dấu chân in trên hai viên gạch.

Giải thích:

Toàn bộ câu chuyện xoay quanh hai viên gạch có in dấu chân của chú Ba quận ủy – một cán bộ cách mạng đã sống, hoạt động bí mật suốt mười bốn năm.

Mở rộng

- Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác của tác giả.

- Một số ví dụ về đề tài:

+ Đề tài của truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

+ Đề tài của Truyện Kiều (Nguyễn Du) là cuộc đời và số phận bất hạnh của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội phong kiến thối nát.

- Cách xác định đề tài: Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định văn bản đang đề cập tới khía cạnh, vấn đề nào của đời sống.

Link tham khảo: Đề tài (Từ điển tiếng Việt)


Câu 3

Nhân vật xuất hiện qua lời kể của bác Bảy trong văn bản “Dấu chân” là ai?

Phương pháp giải

Chú ý nhân vật xuất hiện qua lời kể của bác Bảy

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Nhân vật xuất hiện qua lời kể của bác Bảy trong văn bản “Dấu chân” là chú Ba quận ủy

Giải thích:

Bác Bảy kể lại cuộc sống và hoạt động bí mật của chú Ba trong suốt mười bốn năm kháng chiến.

Mở rộng

- Truyện ngắn là tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp; cốt truyện thường không chia thành nhiều tuyến; chi tiết cô đúc; lời văn mang nhiều ẩn ý;…

- Truyện ngắn thường phản ánh một “khoảnh khắc”, một tình huống độc đáo, một sự kiện gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời nhân vật.

- Tính cách nhân vật là những đặc điểm riêng tương đối ổn định của nhân vật, được bộc lộ qua mọi hành động, cách ứng xử, cảm xúc, suy nghĩ,… Tính cách nhân vật còn được thể hiện qua các mối quan hệ, qua lời kể và suy nghĩ của nhân vật khác.

Link tham khảo: Nhân vật và tính cách nhân vật trong truyện


Câu 4

Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép sau và cho biết các vế câu đc nối với nhau bằng cách nào: “Lúc đó, trên tay mẹ, con cứ nhìn theo hai viên gạch đc gói trong chiếc khăn, mắt con tò mò, thơ ngây”

Phương pháp giải

Tách các vế câu, xác định nội dung từng vế rồi tìm mối quan hệ ý nghĩa giữa chúng.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

- Vế 1: "Con cứ nhìn theo hai viên gạch được gói trong chiếc khăn"

- Vế 2: "Mắt con tò mò, thơ ngây"

→ Quan hệ ý giữa các vế: Bổ sung ý nghĩa cho nhau. Vế sau làm rõ thêm tâm trạng, cảm xúc khi hành động ở vế trước xảy ra.

→ Cách nối: Hai vế câu được nối bằng dấu phẩy (,), đây là cách nối không dùng từ nối, chỉ ngắt nhẹ để liệt kê hành động và cảm xúc.

Giải thích:

Vế thứ nhất nói về hành động “nhìn theo”, còn vế thứ hai bổ sung đặc điểm ánh mắt “tò mò, thơ ngây”, giúp người đọc hình dung rõ hơn tâm trạng của đứa trẻ.

Mở rộng

- Câu ghép là câu có từ hai cụm chủ ngữ – vị ngữ nòng cốt trở lên, mỗi cụm chủ ngữ – vị ngữ được gọi là một vế câu.

- Phân loại câu ghép: câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ

- Mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép:

+ Quan hệ nguyên nhân và kết quả

+ Quan hệ giả thiết – kết quả

+ Quan hệ tương phản

+ Quan hệ mục đích

+ Quan hệ tăng tiến

Link tham khảo: Câu ghép là gì? Phân loại và mối quan hệ giữa các vế trong câu ghép


Câu 5

Văn bản "Dấu chân" của Nguyễn Quang Sáng gửi đến chúng ta thông điệp gì? Thông điệp đó có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống của em?

Phương pháp giải

Từ nội dung và ý nghĩa của câu chuyện, rút ra thông điệp phù hợp rồi liên hệ bản thân.

Lời giải của GV Loigiaihay.com

- Thông điệp: Ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của người cha và tình cảm gia đình thiêng liêng.

- Ý nghĩa: Nhắc em biết ơn cha mẹ, trân trọng tình thân và sống yêu thương hơn.

Giải thích:

Hai viên gạch in dấu chân không chỉ là kỉ vật bình thường mà còn là biểu tượng của sự bền bỉ, lòng yêu nước và tinh thần cách mạng bất khuất.

Mở rộng

Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.

Link tham khảo: Thông điệp là gì?


BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...

Các bài tập cùng chuyên đề

Bài 1 :

Bài thơ về tiểu đội xe không kính có bố cục gồm mấy phần?

  • A.

    Gồm 3 phần

  • B.

    Gồm 4 phần

  • C.

    Gồm 5 phần

  • D.

    Gồm 6 phần

Xem lời giải >>

Bài 2 :

“Em bé đánh que diêm thứ tư, em bé "nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em". Khi em đánh tiếp những que diêm còn lại trong bao diêm, em thấy bà em to lớn và đẹp lão, bà em cầm lấy tay em, hai bà cháu vụt bay lên chầu Thượng đế"

(Cô bé bán diêm)

Ý nghĩa của mộng tưởng này là gì?

  • A.

    Khao khát tình thương của bà trao cho.

  • B.

    Muốn được trường sinh bất tử.

  • C.

    Muốn thoát khỏi cảnh ngộ đen tối "chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ nào".

  • D.

    Được gặp bà sống yên vui trong lòng bà.

Xem lời giải >>

Bài 3 :

Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm bài học gì?

  • A.

    Sức sống tiềm tàng của những con người vùng biển

  • B.

    Cần nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng

  • C.

    Nhẫn nại, cam chịu như người đàn bà làng chài để giữ hạnh phúc gia đình

  • D.

    Bài học về đấu tranh chống lại nạn bạo hành gia đình

Xem lời giải >>

Bài 4 :

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu hỏi:

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao

(Trích Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

(Trích Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)

Xem lời giải >>

Bài 5 :

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Ước mơ giống như bánh lái của một con tàu. Bánh lái có thể nhỏ và không nhìn thấy được, nhưng nó điều khiển hướng đi của con người. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái, người không ước mơ sẽ trôi dạt lững lờ cho đến khi mắc kẹt trong đám rong biển”.

(Theo Bùi Hữu Giao, Hành trang vào đời, trang 99, NXB Thanh Niên)

Xem lời giải >>

Bài 6 :

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn cỏ, mỗi cành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già

 (Bác ơi, Tố Hữu)

Xem lời giải >>

Bài 7 :

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

BỐN NGỌN NẾN

       Trong một căn phòng lặng thinh có bốn ngọn nến đang cháy. Ngọn nến thứ nhất nói:

- Tôi là biểu tượng của hòa bình, thế giới này rất cần tôi.

Ngọn nến thứ hai nói:

- Tôi là biểu tượng của lòng trung thành. Hơn tất cả, mọi người đều cần đến tôi.

Ngọn nến thứ ba lên tiếng:

- Tôi là biểu tượng của tình yêu, hãy tưởng tượng xem thế giới sẽ ra sao nếu không có tình yêu, thế giới thực sự rất cần đến tôi.

Đột nhiên, cánh cửa căn phòng mở tung, một làn gió lùa vào thổi tắt cả ba ngọn nến. Cậu bé chạy vào ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao ba ngọn nến lại tắt?

Cậu bé òa khóc, lúc này ngọn nến thứ tư mới lên tiếng:

- Đừng khóc cậu bé, khi nào tôi còn cháy sáng thì cậu vẫn còn có thể thắp sáng cả ba ngọn nến kia lại. Bởi vì tôi chính là hiện thân của hi vọng.

Lúc này, cậu bé không khóc nữa và cầm ngọn nến thứ tư lần lượt thắp sáng cả ba ngọn nến còn lại.     

 (Những câu chuyện khơi nguồn trí tuệ  - Trương Thiết Thành)

Xem lời giải >>

Bài 8 :

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU

     (1) Ngày 28-2-2021, anh Nguyễn Ngọc Mạnh, chàng trai 31 tuổi ở thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc (huyện Đông Anh, TP Hà Nội) - vốn là người lái xe tải chở hàng hoá bình thường - đã có một hành động phi thường gây chấn động cả giới truyền thông. (2) Nguyễn Ngọc Mạnh đã dũng cảm, mạnh mẽ và quan trọng hơn cả là đúng lúc, kịp thời làm nên phút giây huyền diệu cứu sống bé gái 3 tuổi rơi từ tầng 12A, tòa chung cư 60B Nguyễn Huy Tưởng, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội. ...

    (3) “Tôi vừa cố trèo, vừa đưa tay ra cố gắng đỡ cháu. Điều tôi thấy hối hận nhất là không thể đỡ cháu được bằng cả hai tay để giảm thương tích cho cháu", anh Nguyễn Ngọc Mạnh hồi tưởng. ...

    (4) Muốn biết giá trị thật sự của 1/100 giây, hãy hỏi vận động viên điền kinh vừa đoạt huy chương bạc tại Olympic. (5) Nguyễn Ngọc Mạnh đã cho chúng ta biết giá trị thật sự của 1/100 giây, thậm chí ít hơn nữa khi lao mình lên mái tôn, cố gắng cao nhất giơ đôi tay để cứu em bé rơi xuống …

    (6) Thời gian như dòng sông cứ mải miết trôi. (7) Nhưng những phút giây huyền diệu thì sẽ luôn ngưng đọng mãi, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn và khiến chúng ta không thể nào quên.

(Trích: Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý” lần thứ 12, Báo Quân Đội Nhâ Dân online- ngày 2/3/2021)

Xem lời giải >>

Bài 9 :

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao


Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi


Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ…mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?

           (Trích “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” -  Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Xem lời giải >>

Bài 10 :

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Cho gươm mời đến Thúc lang

Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run

Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là

Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa"

(SGK Ngữ văn 9, tập một)

Xem lời giải >>

Bài 11 :

Bài học rút ra từ văn bản dưới đây là gì?

NGƯỜI ĂN XIN

Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.

Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.  Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay nóng hổi của ông:

- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.

Ông nhìn tôi chăm chăm đôi môi nở nụ cười:

- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. 

Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.

(Theo Tuốc-ghê-nhép) 

Xem lời giải >>

Bài 12 :

Kết cấu của bài thơ là gì?

Xem lời giải >>

Bài 13 :

Kết cấu của bài thơ được thể hiện ở những phương diện tổ chức nào trong tác phẩm?

Xem lời giải >>

Bài 14 :

Ngôn ngữ thơ có đặc điểm gì?

Xem lời giải >>

Bài 15 :

Vì sao bài thơ dễ dàng tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc và khắc sâu trong tâm trí họ?

Xem lời giải >>

Bài 16 :

Điền vào chỗ trống trong câu sau:

          Hình thức nghệ thuật của văn bản là cách …… mọi yếu tố (bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biên pháp tu từ, vần, nhịp…) nhằm tạo nên…… của tác phẩm

Xem lời giải >>

Bài 17 :

Trong khổ thơ sau, tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh nào? Tác dụng của nó là gì?

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

(Tế Hanh, Quê hương)

Xem lời giải >>

Bài 18 :

Xác định một vài biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của chúng:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...

(Bằng Việt, Bếp lửa)

Xem lời giải >>

Bài 19 :

Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ Quê hương (Tế Hanh)

Xem lời giải >>

Bài 20 :

Vẽ sơ đồ bố cục của bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt)

Xem lời giải >>

Bài 21 :

Chỉ ra một vài nét đặc sắc của kết cấu bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt).

Xem lời giải >>

Bài 22 :

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

NÓI VỚI CON

Y Phương

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.


Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.

Xem lời giải >>

Bài 23 :

So sánh sự khác nhau của cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong văn bản nghị luận dựa vào bảng sau (làm vào vở):

Cách trình bày vấn đề khách quan

Cách trình bày vấn đề chủ quan

Đặc điểm

Tác dụng

Ví dụ

Xem lời giải >>

Bài 24 :

Phân tích sự kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn văn sau:

       Chủ đề cách ứng xử với thiên nhiên được tô đậm hơn qua những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Hoài. Ban đầu, Hoài chưa hiểu quyết định trả tự do cho chim bống chanh đỏ, nên đã trách anh Hiến. Lời nói của anh đã thức tỉnh Hoài, đồng thời thức tỉnh chúng ta - những người đọc: “Nếu có đứa nào phá rối nhà mày thì mày tính sao... Vậy thì mày có muốn đóng vai thằng ăn cướp đối với gia đình con bồng chanh không?”. Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chim bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người. Vì thế, những điều ta không muốn xảy đến với mình, ta đừng gây ra cho tự nhiên và các loài vật. Từ đó, Hoài “thương đôi bồng chanh bây giờ đã tha con đến một cánh  đồng nào, ở một đầm nước xa lạ, chúng lại cùng nhau xây tổ để tránh mưa tránh nắng...”. Tình thương ấy xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn. Vì hành động nhất thời của hai anh em, chim bồng chanh đã phải bỏ tổ để đi nơi khác. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩn trọng khi ứng xử với thiên nhiên, vì bất kì hành động vô tâm nào cũng có thể gây ra những tổn thương đối với muôn loài.

              (Trích Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn Bồng chanh đỏ, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

Xem lời giải >>

Bài 25 :

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

                                                          Nguyễn Đình Thi

       Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.

         Nguyễn Du viết:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thoả mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na5 (Anna Karenina) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn còn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vất những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.

       Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. [...] Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí, triết học, mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phần khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đương hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn.

          [...] Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.

          Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hoá thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ vẫn nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống, và cuộc sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao". [...] Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

         Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một mình trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Những nghệ sĩ không đến mở cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng lại trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thẩm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy. [...]

                         (Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)

a. Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn “Lời gửi của nghệ thuật…cách sống của tâm hồn.”

b. Luận đề của văn bản là gì? Xác định bố cục và luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý sau:

Bố cục

Luận điểm

Phần 1 (Từ đầu đến “cách sống của tâm hồn”

Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ.

Phần 2 …

...

Phần 3 …

....

c. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Những lí lẽ, bằng chứng trong đoạn cuối văn bản đã làm sáng tỏ luận đề như thế nào?

d. Em ấn tượng nhất với đoạn văn nào trong bài viết? Hãy chia sẻ ấn tượng ấy với các bạn.

đ. Có bạn trẻ cho rằng: Khi đọc tác phẩm truyện, chỉ cần tập trung vào cốt truyện cho thỏa trí tò mò là đủ. Em có đồng ý với cách đọc này không? Từ nội dung văn bản và trải nghiệm đọc của bản thân, hãy trao đổi với bạn về cách đọc mà em cho là phù hợp nhất.

Xem lời giải >>

Bài 26 :

 Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử là gì?

Xem lời giải >>

Bài 27 :

Vẽ sơ đồ xác định cấu trúc của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử.

Xem lời giải >>

Bài 28 :

Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn trình bày thông tin theo (những) cách nào? Vì sao?

Xem lời giải >>

Bài 29 :

Bài phỏng vấn là gì? Có mấy cách phân loại bài phỏng vấn?

Xem lời giải >>

Bài 30 :

Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn.

Xem lời giải >>