Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
VÉ XEM XIẾC
(Lược trích: Chị là người mẹ đơn thân, có đứa con trai 6 tuổi đang học mầm non, chuẩn bị vào lớp 1. Chị bán bánh mì rong để kiếm sống nên cuộc sống của hai mẹ con rất eo hẹp. Thường ngày, chị chỉ đưa con đến gần cổng trường, lặng lẽ đứng nhìn con vào lớp rồi mới đi bán hàng, chiều đến cũng chỉ đứng ngoài cổng đón đợi vì chị sợ các bạn của con sẽ cười bộ dạng lếch thếch của người bán hàng rong khiến con chị buồn. Hôm đó là ngày con Tốt nghiệp, chị phá lệ vào tận lớp đón con. Con chị rất vui vì được mẹ đón, còn vui hơn vì cậu được cô giáo thưởng quà và cho một chiếc vé đi xem xiếc. Tối đó chị đã dẫn con đi xem xiếc)
Hai mẹ con người đàn bà đến sân vận động khi cửa vào đã đông nghẹt người. Thằng bé nhảy chân sáo bên mẹ, thỉnh thoảng nó vượt lên trước, tay giơ cao tấm vé xem xiếc, miệng líu lo:
- Mẹ thấy chưa, đoàn xiếc này là "có nghề" lắm nhá! Người đi xem đông ơi là đông… Không biết bọn thằng Bo, cái Nhím có được đi xem không mẹ nhỉ?
Thằng bé bỗng nhỏ giọng, cầm lấy tay mẹ:
- Vào cổng rồi mẹ nhớ nắm chặt tay con, mẹ nhé! Con sợ mẹ con mình lạc nhau. Cô giáo bảo lạc mẹ là tội nhất…
Người đàn bà nhìn con rưng rưng. Gánh xiếc về quả là ngày hội lớn của bọn trẻ. Ở đấy, người ta bán vô số đồ chơi và quà ăn vặt của trẻ con. Thằng bé kín đáo nhìn những hình thù ngộ nghĩnh trên những quả bóng bay được bơm tròn căng. Nó lè lưỡi liếm môi khi đi qua hàng bỏng ngô chiên mỡ. Chị vờ như không biết. Chị để mặc dòng nước lặng lẽ chuồi trên khoé mắt. [...]
Người đàn bà nhón chân, gật gật đầu rồi lách lên phía trước. Chị nghiêm trang chìa tấm vé xem xiếc mà con trai chị được tặng ở trường mầm non. Anh chàng soát vé bật cười, trả tấm vé cho chị:
- Bà khốt1 ơi, đây là vé của trẻ con. Mà trẻ con cũng phải có người lớn đi kèm thì mới được vào! Người lớn muốn vào thì phải sang kia mua vé. Không biết bà ở đâu ra mà khốt thế không biết?
Anh chàng soát vé đẩy chị ra. Người đàn bà nghe sống lưng lạnh toát, mồ hôi nhễ trong lần áo ngực. Ôi! Con trai bé bỏng của chị, chị biết phải làm sao đây? Chị lần dây rút, kín đáo đếm lại số tiền trong đạy. Những đồng tiền ít ỏi của chị đủ để mua một tấm vé vào xem xiếc. Nhưng còn ngày mai, ngày kia… chị không biết phải xoay xở thế nào cho cuộc sống của hai mẹ con. Người đàn bà đau đớn nhìn đôi mắt trong veo của con trai đang ngước vào phía trong. Chắc nó sốt ruột muốn nhanh lên ngồi ở hàng đầu để nhìn cho rõ… Lấy hết can đảm, người đàn bà cúi xuống sát tai nó, giọng nghẹn lại:
- Bi ơi, mình về thôi con!
Cổ họng chị tắc nghẽn khi nhìn đôi vai buông thõng, khuôn mặt buồn thiu thắt của thằng bé. Không kìm được, chị ghì lấy nó, đôi dòng nước mắt lặng lẽ rơi:
- Mẹ xin lỗi con, thứ lỗi cho mẹ, con nhé!
Thằng bé day mặt về phía chị, chỉ thoáng chốc, một thoáng chốc thôi, khuôn mặt thằng bé đã ở trạng thái bình thường. Nó chạy trước chị một quãng, nói lớn để chị không thể nhận ra giọng nói đã méo xệch của mình, rằng, mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm xem, nhỉ, mẹ nhỉ!
Người đàn bà cùng thằng con trai sáu tuổi đi về phía con đường có những ánh đèn. Sau lưng hai mẹ con tiếng loa phóng thanh ra rả về buổi xiếc thú chìm dần trong bóng tối.
(Theo Tống Phù Sa, Truyện ngắn hay 2015, NXB Văn học, 2015, trang 243 - 258)
Chú thích:
Bà khốt (ông khốt): Nguyên gốc là Khốt - ta - bít, tên một nhân vật thần thoại bị nhốt trong hũ hàng ngàn năm, may mắn thoát ra được, hoàn toàn ngơ ngác trước cuộc sống đương đại. Khốt là tiếng lóng mà các công tử, tiểu thư con nhà giàu gọi ông bà, cha mẹ, người già... coi họ là những người lạc hậu.
Xác định ngôi kể và nêu tác dụng của ngôi kể trong truyện ngắn.
Xác định ngôi kể và nêu tác dụng của ngôi kể trong truyện ngắn.
Dựa vào cách xưng hô của người kể chuyện và vị trí của người kể trong câu chuyện.
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
- Tác dụng:
+ Giúp người kể giấu mình, tạo góc nhìn bao quát, khách quan.
+ Linh hoạt chuyển đổi điểm nhìn giữa hai mẹ con để làm nổi bật diễn biến tâm lí, tình cảm và sự hi sinh thầm lặng của người mẹ, đồng thời khắc họa tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương của cậu bé.
+ Gợi cảm xúc sâu lắng, dễ lay động lòng người.
Giải thích:
Người kể không xưng "tôi" mà gọi các nhân vật bằng "người đàn bà", "thằng bé", "chị",... nên đây là ngôi kể thứ ba.
Ngôi kể thứ ba: khi gọi các nhân vật bằng tên gọi của chúng, người kể tự giấu mình đi, người kể có thể kể linh hoạt tự do những gì diễn ra với nhân vật.
Link tham khảo: Ngôi kể và tác dụng của việc thay đổi ngôi kể

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Thằng bé nhảy chân sáo bên mẹ, thỉnh thoảng nó vượt lên trước, tay giơ cao tấm vé xem xiếc, miệng líu lo:”.
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Thằng bé nhảy chân sáo bên mẹ, thỉnh thoảng nó vượt lên trước, tay giơ cao tấm vé xem xiếc, miệng líu lo:”.
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng và phân tích tác dụng.
- Biện pháp tu từ Liệt kê: “nhảy chân sáo”, “vượt lên trước”, “tay giơ cao”, “miệng líu lo”.
- Tác dụng:
+ Khắc họa hình ảnh sinh động, chân thực của một cậu bé hồn nhiên, vui vẻ, háo hức khi sắp được đi xem xiếc.
+ Gợi không khí rộn ràng và niềm vui trong sáng của tuổi thơ, đồng thời làm nổi bật sự đối lập với hoàn cảnh khó khăn phía sau.
Giải thích:
Các hành động được liệt kê liên tiếp giúp người đọc cảm nhận rõ tâm trạng vui sướng của cậu bé.
Liệt kê là biện pháp tu từ mà người nói, người viết kể ra nhiều sự vật, sự việc, hoạt động, tính chất, trạng thái,... trong cùng một câu, một đoạn để tạo nên ấn tượng mạnh, hiệu quả cao trong miêu tả, kể chuyện hoặc biểu lộ tình cảm, cảm xúc.
Link tham khảo: Biện pháp tu từ Liệt kê
Chi tiết cậu bé day mặt về phía mẹ, thoáng chốc khuôn mặt nó trở lại trạng thái bình thường và nó nói lớn với mẹ “Mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm xem, nhỉ, mẹ nhỉ!” cho em hiểu điều gì về cậu bé?
Chi tiết cậu bé day mặt về phía mẹ, thoáng chốc khuôn mặt nó trở lại trạng thái bình thường và nó nói lớn với mẹ “Mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm xem, nhỉ, mẹ nhỉ!” cho em hiểu điều gì về cậu bé?
Phân tích lời nói, hành động của nhân vật.
Chi tiết ấy cho thấy cậu bé là một đứa trẻ:
- Nhạy cảm, tinh tế khi nhận ra sự buồn bã và khó xử của mẹ.
- Biết nghĩ cho người khác, biết che giấu nỗi buồn của mình để không làm mẹ đau lòng.
- Câu nói hài hước của cậu bé thể hiện sự trưởng thành, bao dung và tình yêu thương mẹ sâu sắc, vượt xa tuổi lên sáu.
Giải thích:
Dù rất muốn xem xiếc nhưng cậu bé vẫn cố tỏ ra bình thường để mẹ không cảm thấy có lỗi.
Chi tiết là phần rất nhỏ, điểm nhỏ trong nội dung sự việc hoặc hiện tượng.
Link tham khảo: Định nghĩa chi tiết
Truyện ngắn Vé xem xiếc đã gửi gắm đến bạn đọc những thông điệp nào?
Truyện ngắn Vé xem xiếc đã gửi gắm đến bạn đọc những thông điệp nào?
Dựa vào nội dung và ý nghĩa của câu chuyện.
Gợi ý:
- Tình mẫu tử thiêng liêng, xúc động, giàu hi sinh.
- Sự trưởng thành và bao dung từ tấm lòng trẻ thơ, biết đồng cảm và che chở cho mẹ.
- Nhắc nhở cộng đồng xã hội quan tâm, sẻ chia với những hoàn cảnh nghèo khó, đặc biệt là những người mẹ đơn thân đang chật vật nuôi con.
- Cái nghèo có thể khiến cuộc sống chật vật, nhưng tình yêu thương vẫn luôn là ánh sáng làm dịu đi nỗi đau.
Giải thích:
Qua hình ảnh người mẹ nghèo và cậu bé hiểu chuyện, tác giả ca ngợi tình yêu thương trong gia đình và nhắc nhở mọi người hãy biết quan tâm, chia sẻ với nhau.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?
Xác định đề tài của văn bản trên.
Xác định đề tài của văn bản trên.
Xác định vấn đề xã hội chính mà tác phẩm phản ánh.
Đề tài: tình mẫu tử.
Giải thích:
Câu chuyện tập trung khắc họa tình yêu thương, sự hi sinh của người mẹ và tình cảm của người con dành cho mẹ.
- Đề tài là lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thể hiện trong văn bản. Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng tác của tác giả.
- Một số ví dụ về đề tài:
+ Đề tài của truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao) là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
+ Đề tài của Truyện Kiều (Nguyễn Du) là cuộc đời và số phận bất hạnh của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội phong kiến thối nát.
- Cách xác định đề tài: Căn cứ vào nội dung văn bản để xác định văn bản đang đề cập tới khía cạnh, vấn đề nào của đời sống.
Link tham khảo: Đề tài (Từ điển tiếng Việt)
Xác định nhân vật chính của văn bản trên.
Xác định nhân vật chính của văn bản trên.
Xác định nhân vật giữ vai trò trung tâm trong diễn biến câu chuyện.
Nhân vật chính: hai mẹ con Bi.
Giải thích:
Mọi sự việc, tình huống và cảm xúc trong truyện đều xoay quanh hai mẹ con.
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm.
Link tham khảo: Khái niệm nhân vật văn học
Cuối truyện, hai mẹ con không được xem xiếc, dù rất muốn xem nhưng Bi vẫn theo mẹ về. Em hiểu ý nghĩa câu nói của Bi ở cuối truyện như thế nào?
Cuối truyện, hai mẹ con không được xem xiếc, dù rất muốn xem nhưng Bi vẫn theo mẹ về. Em hiểu ý nghĩa câu nói của Bi ở cuối truyện như thế nào?
Phân tích hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật.
- Cuối truyện, bé Bi đã “chạy lên trước mặt mẹ một quãng, nói lớn để chị không thể nhận ra giọng nói đã méo xệch của mình, rằng, mẹ ơi, đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm xem, nhỉ, mẹ nhỉ!”
- Ý nghĩa câu nói của Bi ở cuối truyện: Bi không cần xem xiếc nữa dù bé rất muốn và háo hức, mong chờ, bởi với cậu, mẹ còn quan trọng hơn gánh xiếc. Bi hiểu hoàn cảnh gia đình mình, Bi thương mẹ tần tảo, hi sinh cho mình, vì thế, nơi đâu có mẹ là Bi vui.
Giải thích:
Cậu bé rất muốn xem xiếc. Trước đó em đã vui mừng, háo hức và mong đợi vô cùng. Khi biết không thể vào xem, em chắc chắn rất buồn. Tuy nhiên em không khóc lóc, không trách móc mẹ mà cố tỏ ra vui vẻ rồi nói rằng: "Đoàn xiếc này cũng còn non nghề, ai mà thèm xem". Đó chỉ là lời nói để an ủi mẹ.
Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản.
Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản.
Dựa vào cách xây dựng nhân vật và giọng điệu kể chuyện.
Tác giả thể hiện lòng cảm thương, sẽ chia, trân trọng của mình với những mảnh đời nghèo khó. Đó là:
- Cảm thương cho hoàn cảnh khó khăn, tình huống éo le, không thể mua nổi tấm vé xem xiếc cùng con của người mẹ; thương cho con trẻ không được hưởng niềm vui thơ ấu giản đơn, bình dị nhất.
- Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng khi người mẹ nghèo khó nhưng tần tảo, hi sinh tất cả vì con và sự hiểu chuyện của cậu con trai.
- Phê phán kín đáo, tế nhị mà sâu sắc với những người dửng dưng, vô cảm trước sự nghèo khó, ít học của người khác ở nhân vật người bán vé.
Giải thích:
Qua câu chuyện, tác giả bày tỏ niềm xúc động trước tình yêu thương giữa hai mẹ con nghèo.








Danh sách bình luận