Mùn là loại vật chất hữu cơ phức tạp trong đất, độ màu mỡ của đất phụ thuộc vào hàm lượng mùn trong đất. Xác định carbon trong đất để tính hàm lượng mùn trong đất theo phương pháp Tiurin như sau:
Bước 1: Cân 0,35 gam một mẫu đất khô rồi cho phản ứng với 11,7 mL dung dịch K2Cr2O7 0,1 M trong H2SO4 loãng, dư, đun nóng (cho biết có 90% lượng carbon đã bị oxi hóa ở phản ứng này) thu được dung dịch X, sơ đồ phản ứng xảy ra như sau:
K2Cr2O7 + C + H2SO4 → K2SO4 + Cr2(SO4)3 + CO2 + H2O (1)
Bước 2: Chuẩn độ dung dịch X thu được ở bước 1 bằng dung dịch FeSO4 0,1221 M trong H2SO4 loãng với chất chỉ thị thích hợp (cho biết phản ứng xảy ra hoàn toàn) thì dùng hết 18,7 mL, sơ đồ phản ứng xảy ra như sau:
K2Cr2O7 + FeSO4 + H2SO4 → Fe2(SO4)3 + Cr2(SO4)3 + K2SO4 + H2O (2)
Theo phương pháp Tiurin, khối lượng mùn trong đất bằng khối lượng carbon trong đất nhân với hệ số 1,724 và từ đó xác định được hàm lượng mùn trong đất là a% khối lượng. Giá trị của a bằng bao nhiêu? (Không làm tròn khi tính toán và kết quả cuối cùng làm tròn đến hàng phần mười).
Dựa vào phản ứng chuẩn độ ion Fe2+
2K2Cr2O7 + 3C + 8H2SO4 → 2K2SO4 + 2Cr2(SO4)3 + 3CO2 + 8H2O (1)
K2Cr2O7 + 6FeSO4 + 7H2SO4 → 3Fe2(SO4)3 + Cr2(SO4)3 + K2SO4 + 7H2O (2)
\({n_{{{\rm{K}}_2}C{r_2}{O_7}}} = 0,1.11,{7.10^{ - 3}} = 1,{17.10^{ - 3}}{\rm{mol}}\)
\({n_{{\rm{FeS}}{{\rm{O}}_4}}} = 0,1221.18,{7.10^{ - 3}} = 2,28427\;{.10^{ - 3}}\,\,{\rm{mol}}\)
\({n_{{\rm{C}}{{\rm{r}}_2}O_7^{2 - }}}\) dư \( = \frac{{2,28427\;}}{6}\;{.10^{ - 3}}{\rm{mol}}\)
\({n_{{\rm{C}}{{\rm{r}}_2}{\rm{O}}_7^{2 - }{\rm{ }}}}\)phản ứng với C\( = 1,{17.10^{ - 3}} - \frac{{2,28427\;}}{6}{.10^{ - 3}} = 0,{78929.10^{ - 3}}\;{\rm{mol}}\)
n C bị oxi hóa \( = \frac{3}{2}.0,{78929.10^{ - 3}} = 1,{184.10^{ - 3}}\;{\rm{mol}}\)
n C thực tế \( = \frac{{1,{{184.10}^{ - 3}}}}{{0,90}} = 1,{3156.10^{ - 3}}\;{\rm{mol}}\) (hiệu suất 90%)
\({m_C} = 1,{3156.10^{ - 3}}.12 = 0,01579\;{\rm{g}} \Rightarrow {m_{{\rm{mu n }}}} = 0,01579.1,724 = 0,02721\;{\rm{g}}\)
\(a = \frac{{0,02721}}{{0,35}}.100\% = 7,774\% \)



Trong phòng thí nghiệm, một nhóm học sinh tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian lưu giữ tới nồng độ FeSO₄ trong dung dịch. Giả thuyết của nhóm học sinh là: “Khi để lâu, nồng độ FeSO4 trong dung dịch giảm.” Nhóm học sinh chuẩn bị 250,0 mL dung dịch FeSO4 (nồng độ khoảng 0,1 M) đựng trong bình kín (dán nhãn bình là Y) và tiến hành các thí nghiệm ở hai thời điểm khác nhau như sau:




Danh sách bình luận