Cho quãng đường từ địa điểm A tới địa điểm B dài 90 km. Lúc 6 giờ, một xe máy đi từ A tới B. 6 giờ 30 phút cùng ngày, một ô tô cũng đi từ A tới B với vận tốc lớn hơn vận tốc xe máy 15 km/h. Hai xe cùng chạy trên một con đường và đến B cùng lúc. Tính vận tốc mỗi xe.
Gọi x là vận tốc của xe máy (x > 0, đơn vị: km/h).
Biểu diễn vận tốc, thời gian di chuyển của xe máy và xe ô tô theo x.
Thời gian di chuyển từ A đến B của xe ô tô ít hơn xe máy 30 phút nên ta lập được phương trình.
Giải phương trình để tìm x, kiểm tra điều kiện và kết luận.
Xe máy đi trước ô tô 30 phút = \(\frac{1}{2}\) giờ.
Gọi vận tốc của xe máy là x (x > 0, đơn vị: km/h).
Vì vận tốc ô tô lớn hơn vận tốc xe máy 15 km/h nên vận tốc của ô tô là x + 15 (km/h).
Thời gian xe máy đi hết quãng đường AB là: \(\frac{{90}}{x}\) (h).
Thời gian ô tô đi hết quãng đường AB là: \(\frac{{90}}{{x + 15}}\) (h).
Do xe máy đi trước ô tô \(\frac{1}{2}\) giờ và hai xe đều tới B cùng một lúc nên ta có phương trình:
\(\frac{{90}}{x} - \frac{{90}}{{x + 15}} = \frac{1}{2}\)
\(\frac{{90.2(x + 15)}}{{2x(x + 15)}} - \frac{{90.2x}}{{2x(x + 15)}} = \frac{{x(x + 15)}}{{2x(x + 15)}}\)
\(90.2(x + 15) - 90.2x = x(x + 15)\)
\(180x + 2700 - 180x - {x^2} - 15x = 0\)
\( - {x^2} - 15x + 2700 = 0\)
Giải phương trình trên, ta được x = -60 (không thỏa mãn) và x = 45 (thỏa mãn).
Vậy, vận tốc của xe máy là 45 km/h, vận tốc của ô tô là 60 km/h.
+ Lý thuyết cơ bản được áp dụng ở đây là công thức tính quãng đường trong chuyển động đều: Quãng đường = Vận tốc × Thời gian.
+ Từ công thức này, chúng ta có thể suy ra công thức tính thời gian: Thời gian = Quãng đường / Vận tốc.
+ Bài toán cũng yêu cầu giải một phương trình đại số, cụ thể là một phương trình bậc hai, để tìm ra giá trị của biến (vận tốc) sau khi thiết lập mối quan hệ về thời gian giữa hai đối tượng chuyển động.
Đối với các bài toán chuyển động có yếu tố quãng đường, vận tốc, thời gian và mối liên hệ về thời điểm xuất phát hoặc thời điểm đến đích, phương pháp giải chung thường bao gồm các bước sau:
Trong trường hợp bài toán này, phương trình dẫn đến là bậc hai, nhưng các bài toán chuyển động khác có thể dẫn đến các dạng phương trình khác (ví dụ: phương trình bậc nhất, phương trình chứa ẩn ở mẫu...). Tuy nhiên, các bước cơ bản trong phương pháp giải vẫn tương tự nhau.

Các bài tập cùng chuyên đề