Đề bài

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

(Lược trích: Khờ vẫn là một đứa trẻ. Năm Khét chín tuổi, mẹ đất nó lên ngọn núi Trời này, bảo ngồi đó đại đã trổ bông mẹ lên đón. Rồi bà mẹ trẻ xuống núi, biệt dạng. Khở dần lớn lên nhờ chén cơm của cư dân trên suôn núi, cậu sẵn sàng làm bất cứ việc gì để giúp đỡ mọi người với lòng tốt vô tư.)

Suốt ba chục năm, duy nhất một lần Khở với núi chường tuần lễ. Nó bị sét đánh, Cải đầu trọc của nút mà nó đang chân giữ, không hiểu sao hay bị sét xuống thăm, đến cây cối không mọc nổi. Bữa đó giông khô, Khờ lom khom gom mở thuốc nam chùa gửi phơi, thì bị sét quật lần ra, tốc chây xém. Câu đầu tiên nó nói khi tỉnh dậy, “đã trổ bông chưa?" Tôi ông trời còn không bứng thẳng Khờ ra khỏi mở đã đó, người mùi Xanh nói. Đúng lúc Khờ lại thêm một lượt gánh nữa ngang qua chỗ quản nước tôi ngồi cùng máy bà trong xóm, nhe răng cười. Ở Khô không có vẻ gì bơ vơ, dù đang một mình bơi giữu đó và nắng. Ngay khi ró bị che khuất bởi một của gất trên đường mòn, cũng để lại cảm giác ấm áp, chắc nịch. Khô giải thích, nhất là nhân vật ấy mang trong mình một câu chuyện mùi lòng.

Hỏi mẹ Khờ cô từng quay lại không, người núi Xanh nôi biết đâu, giờ nhiều du khách lên đây, một mũi ai cũng dáo dác như ai, nhớ sao nổi người phụ nữ mấy chục năm về trước. Thằng nhỏ hay bị du khách ghẹo, họ xưng mẹ nè con, mau về với mẹ. “Mẹ tại nội chúng đã trổ bông mới lên đòn, giờ có trố xiu nào đâu", Khờ nói. Chỉ một lời đổi ầu ơ, nhưng với bộ nào ngờ nghệch của Khở, đã thành một thứ dây trỏi bền dai, buộc nó mãi trên đỉnh núi. Mẹ Khả có ở đây, chắc e gi lay chuyển được vỏ, đã chưa nở bông nào. Dân núi Xanh có lần hồi tiếc, khi xúm nhau thuyết phục Khô, rằng đảm đà đó đâu thể trổ bông được, sét đánh quá chừng mà, nhữn thì biết, tới có còn không mọc nổi. Khở nói luôn, vậy mấy cục đá không bị trời đành thể nào cũng có bồi g Từ bữa đô nó leo trèo khắp núi. Lo bông đã đang trổ ở hang hốc nào đó, nơi nó chưa mò tới. Còn cả xóm thì phấp phỏng sợ nó trượt chân.
Mình mà nói núi này đã đực khỏ ra bông, Khở sẽ hôi, vậy nút nào mới có? Tôi hình dung vậy, khi ngỏ thằng nhỏ vừa gánh xong đôi nước cuối cùng trong ngày, đổ vào cải khạp da bò đặt ngay định trọc. Nước ấy dành cho du khách uống đỡ khát. Dù họ chỉ dùng rửa mặt, rửa chân, hắt vào người nhau cho vui.

Nắng vẫn xéo xắt, chưa chịu nguội. Tôi quay lại đứng cái chân núi mà vài tiếng đồng hồ trước mình đứng ngán ngẩm vì nắng và hồ Xanh cạn đây. Nghĩ chắc cũng không cần trèo lên chỉ, quá biết trên đó có những thứ gì, lại miễu cậu miều cô, lại những quán xá đu theo vách đá, lại bày bản mấy thứ thần được từ có cây mẹo mốc chở đậu. Nhưng Khờ xuất hiện, với đối thùng nước treo đầu gánh, rũ khơi khơi, lên núi chơi, bông đã nay mai sẽ trổ. 

(Đá trổ bông, Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, 2019)

Câu 1

Chỉ ra dấu hiệu để xác định ngôi kể của truyện ngắn. 

Phương pháp giải

Chú ý lời của người kể chuyện

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Trong truyện ngắn "Đá trổ bông", dấu hiệu để xác định ngôi kể là ngôi thứ nhất, khi người kể xưng "tôi". Điều này thể hiện qua những câu như "Tôi ông trời còn không bứng thẳng Khờ ra khỏi mở đã đó", hay "Tôi quay lại đứng cái chân núi..." Điều này cho thấy câu chuyện được kể từ góc nhìn của một người chứng kiến, không phải người trong cuộc, và sự kể chuyện mang tính trực tiếp, gần gũi với người đọc.


Xem thêm các câu hỏi cùng đoạn
Câu 2

Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu văn: Mua nó đi cọ rửa những bậc đã đóng rêu, che giúp mái nhà ai đó, công bà Chín Sầu Đâu đi hốt thuốc nam chữa đau khớp, đón thắng Đen kẹt ở trường trong giông gió.

Phương pháp giải

Vận dụng kiến thức về biện pháp liệt kê

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Câu văn: "Mua nó đi cọ rửa những bậc đã đóng rêu, che giúp mái nhà ai đó, công bà Chín Sầu Đâu đi hốt thuốc nam chữa đau khớp, đón thắng Đen kẹt ở trường trong giông gió."

- Biện pháp tu từ trong câu này là liệt kê, với hàng loạt hành động khác nhau được nêu ra một cách liên tiếp để miêu tả công việc và sự vất vả của các nhân vật. Biện pháp này nhằm tạo ra một hình ảnh sống động về cuộc sống mưu sinh đầy gian khổ của những con người trong tác phẩm.


Câu 3

Anh/chị hiểu gì về hình ảnh "đá trổ bông" trong nhan đề và trong toàn bộ tác phẩm?

Phương pháp giải

Dựa vào ngữ cảnh, nêu suy nghĩ về hình ảnh

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Hình ảnh "đá trổ bông" là một phép ẩn dụ sâu sắc trong tác phẩm, thể hiện sự kiên cường, bền bỉ và khả năng vươn lên của nhân vật Khờ. "Đá" tượng trưng cho những khó khăn, thử thách trong cuộc sống, còn "bông" là kết quả của sự kiên nhẫn, lòng tin và sự hy vọng. Câu chuyện về Khờ là hành trình chờ đợi "bông trổ" trên đá, tượng trưng cho khát khao sống, sự vươn lên từ những gian khó. Khờ, mặc dù là một đứa trẻ ngây ngô, vẫn có niềm tin mạnh mẽ vào những điều kỳ diệu, vào khả năng vượt qua thử thách mà không hề nản chí. Đây chính là hình ảnh của hy vọng và sự kiên cường trong cuộc sống.


Câu 4

Qua truyện Đả trổ bông, anh/chị hãy nêu nhận xét về phong cách của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Phương pháp giải

Liên hệ với phong cách sáng tác của tác giả

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Nguyễn Ngọc Tư có phong cách viết đặc trưng với lối kể chuyện giản dị, chân thật nhưng đầy ẩn dụ. Các tác phẩm của cô thường khám phá những khía cạnh sâu sắc của cuộc sống, nhân vật và tâm lý con người. Trong "Đá trổ bông", phong cách của tác giả thể hiện qua việc xây dựng một không gian núi non, hoang sơ và những nhân vật bình dị nhưng có nội tâm phức tạp. Những chi tiết nhỏ, như hình ảnh của Khờ leo núi, đem lại cảm giác mộc mạc, tự nhiên, nhưng lại sâu sắc và giàu ý nghĩa. Nguyễn Ngọc Tư thường sử dụng những hình ảnh đẹp và giàu tính tượng trưng để khắc họa những giá trị sống, niềm tin và hy vọng.


Câu 5

Từ nội dung của văn bản anh/chị có suy nghĩ gì về sức mạnh của niềm tin trong cuộc sống?

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Niềm tin là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua mọi thử thách, khó khăn trong cuộc sống. Trong "Đá trổ bông", nhân vật Khờ thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào điều kỳ diệu, vào khả năng bông "trổ" từ đá dù xung quanh mọi người đều nghĩ đó là điều không thể. Niềm tin của Khờ không chỉ là sự mong đợi một kết quả tốt đẹp mà còn là sự kiên nhẫn, dũng cảm để tiếp tục cố gắng dù không thấy rõ con đường phía trước. Câu chuyện cho thấy niềm tin là sức mạnh vô hình nhưng mạnh mẽ, giúp con người vượt qua mọi khổ ải và sống vững vàng hơn.


Câu 6

Viết đoạn văn (khoảng 600 chữ) cảm nhận về nhân vật thẳng Khờ trong văn bản trên

Phương pháp giải

Chú ý các chi tiết, hình ảnh về nhân vật Khờ

Lời giải của GV Loigiaihay.com

Nhân vật Khờ trong tác phẩm "Đá trổ bông" của Nguyễn Ngọc Tư là một hình mẫu nhân vật đặc biệt, mang đậm dấu ấn của sự ngây thơ, lạc quan và niềm tin vô bờ bến vào cuộc sống. Mặc dù chỉ là một đứa trẻ, Khờ thể hiện một sức mạnh nội tâm dẻo dai, kiên cường không thua kém những người lớn, điều này thể hiện rõ qua hành trình chờ đợi "bông trổ" trên đá của mình. Khờ không phải là nhân vật có trí tuệ sắc bén, cũng không phải là người thông minh hay khéo léo, nhưng chính sự chân thành, vô tư và niềm tin mãnh liệt vào những điều kỳ diệu trong cuộc sống đã tạo nên sức mạnh của cậu.

Khờ là một hình ảnh rất đặc biệt, một đứa trẻ vẫn giữ được sự ngây thơ và thuần khiết giữa cuộc sống đầy thử thách và gian khổ. Dù phải sống một mình trên núi, dù là người duy nhất gánh vác những công việc của người lớn, Khờ vẫn lạc quan và vô cùng tự tin. Cậu sẵn sàng làm bất cứ việc gì để giúp đỡ mọi người xung quanh mình, từ việc rửa bậc đá cho đến việc cung cấp nước cho du khách. Tất cả những hành động của Khờ đều được thực hiện với một tấm lòng chân thành và vô tư, không mong cầu đền đáp. Một trong những điểm nổi bật của Khờ là sự kiên nhẫn và niềm tin tuyệt đối vào một điều gì đó sẽ xảy ra, cho dù đó có thể là điều không tưởng. Khờ không ngừng leo núi, tìm kiếm những "bông" có thể nở từ đá, dù ai cũng nghĩ rằng điều đó là không thể. Hình ảnh "đá trổ bông" là một biểu tượng mạnh mẽ của sự hy vọng và kiên cường. Khờ tin rằng dù mọi người xung quanh có hoài nghi, thậm chí cười nhạo, thì chỉ cần cậu kiên trì, sự kỳ diệu sẽ đến. Qua nhân vật Khờ, tác giả Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm một thông điệp sâu sắc về niềm tin và hy vọng. Khờ là hình mẫu của sự ngây thơ, của tình yêu và lòng tin vào cuộc sống, là sự khắc họa rõ nét về khả năng vượt qua khó khăn, thử thách chỉ nhờ vào một niềm tin mạnh mẽ. Chính niềm tin ấy giúp Khờ không ngừng bước đi, không ngừng tìm kiếm, mặc dù biết rằng không dễ dàng để đạt được mục tiêu.

Khờ, với những hành động vô tư và tâm hồn trong sáng, đã khiến người đọc cảm nhận được sức mạnh kỳ diệu của niềm tin. Đó là niềm tin không chỉ về những điều kỳ diệu có thể xảy ra, mà còn về sức mạnh của con người trong việc tạo dựng một cuộc sống tươi đẹp, bất chấp những khó khăn, thử thách. Chính sự kiên trì, niềm tin và lòng dũng cảm của Khờ đã làm nên một câu chuyện đẹp, đầy cảm động và đầy ý nghĩa về cuộc sống.


Các bài tập cùng chuyên đề

Bài 1 :

Bài thơ về tiểu đội xe không kính có bố cục gồm mấy phần?

  • A.

    Gồm 3 phần

  • B.

    Gồm 4 phần

  • C.

    Gồm 5 phần

  • D.

    Gồm 6 phần

Xem lời giải >>

Bài 2 :

“Em bé đánh que diêm thứ tư, em bé "nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em". Khi em đánh tiếp những que diêm còn lại trong bao diêm, em thấy bà em to lớn và đẹp lão, bà em cầm lấy tay em, hai bà cháu vụt bay lên chầu Thượng đế"

(Cô bé bán diêm)

Ý nghĩa của mộng tưởng này là gì?

  • A.

    Khao khát tình thương của bà trao cho.

  • B.

    Muốn được trường sinh bất tử.

  • C.

    Muốn thoát khỏi cảnh ngộ đen tối "chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ nào".

  • D.

    Được gặp bà sống yên vui trong lòng bà.

Xem lời giải >>

Bài 3 :

Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm bài học gì?

  • A.

    Sức sống tiềm tàng của những con người vùng biển

  • B.

    Cần nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng

  • C.

    Nhẫn nại, cam chịu như người đàn bà làng chài để giữ hạnh phúc gia đình

  • D.

    Bài học về đấu tranh chống lại nạn bạo hành gia đình

Xem lời giải >>

Bài 4 :

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu hỏi:

Thời gian chạy qua tóc mẹ

Một màu trắng đến nôn nao

Lưng mẹ cứ còng dần xuống

Cho con ngày một thêm cao

(Trích Trong lời mẹ hát – Trương Nam Hương)

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

(Trích Mẹ và quả - Nguyễn Khoa Điềm)

Xem lời giải >>

Bài 5 :

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn cỏ, mỗi cành hoa

Tự do cho mỗi đời nô lệ

Sữa để em thơ, lụa tặng già

 (Bác ơi, Tố Hữu)

Xem lời giải >>

Bài 6 :

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Cho gươm mời đến Thúc lang

Mặt như chàm đổ mình đường dẽ run

Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là

Vợ chàng quỉ quái tinh ma

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Kiến bò miệng chén chưa lâu

Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa"

(SGK Ngữ văn 9, tập một)

Xem lời giải >>

Bài 7 :

Kết cấu của bài thơ là gì?

Xem lời giải >>

Bài 8 :

Kết cấu của bài thơ được thể hiện ở những phương diện tổ chức nào trong tác phẩm?

Xem lời giải >>

Bài 9 :

Ngôn ngữ thơ có đặc điểm gì?

Xem lời giải >>

Bài 10 :

Vì sao bài thơ dễ dàng tác động trực tiếp đến cảm xúc của người đọc và khắc sâu trong tâm trí họ?

Xem lời giải >>

Bài 11 :

Điền vào chỗ trống trong câu sau:

          Hình thức nghệ thuật của văn bản là cách …… mọi yếu tố (bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biên pháp tu từ, vần, nhịp…) nhằm tạo nên…… của tác phẩm

Xem lời giải >>

Bài 12 :

Trong khổ thơ sau, tác giả đã sử dụng những hình ảnh so sánh nào? Tác dụng của nó là gì?

Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...

(Tế Hanh, Quê hương)

Xem lời giải >>

Bài 13 :

Xác định một vài biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ sau và nêu tác dụng của chúng:

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?...

(Bằng Việt, Bếp lửa)

Xem lời giải >>

Bài 14 :

Xác định cách gieo vần và ngắt nhịp của bài thơ Quê hương (Tế Hanh)

Xem lời giải >>

Bài 15 :

Vẽ sơ đồ bố cục của bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt)

Xem lời giải >>

Bài 16 :

Chỉ ra một vài nét đặc sắc của kết cấu bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt).

Xem lời giải >>

Bài 17 :

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

NÓI VỚI CON

Y Phương

Chân phải bước tới cha

Chân trái bước tới mẹ

Một bước chạm tiếng nói

Hai bước tới tiếng cười

Người đồng mình yêu lắm con ơi

Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát

Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng

Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới

Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.


Người đồng mình thương lắm con ơi

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chí lớn

Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh

Sống trong thung không chê thung nghèo đói

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt

Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt

Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được

Nghe con.

Xem lời giải >>

Bài 18 :

So sánh sự khác nhau của cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong văn bản nghị luận dựa vào bảng sau (làm vào vở):

Cách trình bày vấn đề khách quan

Cách trình bày vấn đề chủ quan

Đặc điểm

Tác dụng

Ví dụ

Xem lời giải >>

Bài 19 :

Phân tích sự kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn văn sau:

       Chủ đề cách ứng xử với thiên nhiên được tô đậm hơn qua những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Hoài. Ban đầu, Hoài chưa hiểu quyết định trả tự do cho chim bống chanh đỏ, nên đã trách anh Hiến. Lời nói của anh đã thức tỉnh Hoài, đồng thời thức tỉnh chúng ta - những người đọc: “Nếu có đứa nào phá rối nhà mày thì mày tính sao... Vậy thì mày có muốn đóng vai thằng ăn cướp đối với gia đình con bồng chanh không?”. Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chim bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người. Vì thế, những điều ta không muốn xảy đến với mình, ta đừng gây ra cho tự nhiên và các loài vật. Từ đó, Hoài “thương đôi bồng chanh bây giờ đã tha con đến một cánh  đồng nào, ở một đầm nước xa lạ, chúng lại cùng nhau xây tổ để tránh mưa tránh nắng...”. Tình thương ấy xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn. Vì hành động nhất thời của hai anh em, chim bồng chanh đã phải bỏ tổ để đi nơi khác. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩn trọng khi ứng xử với thiên nhiên, vì bất kì hành động vô tâm nào cũng có thể gây ra những tổn thương đối với muôn loài.

              (Trích Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn Bồng chanh đỏ, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

Xem lời giải >>

Bài 20 :

Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

                                                          Nguyễn Đình Thi

       Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.

         Nguyễn Du viết:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thoả mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na5 (Anna Karenina) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn còn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vất những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.

       Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. [...] Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí, triết học, mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phần khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đương hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn.

          [...] Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.

          Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hoá thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ vẫn nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống, và cuộc sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao". [...] Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

         Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một mình trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Những nghệ sĩ không đến mở cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng lại trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thẩm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy. [...]

                         (Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)

a. Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn “Lời gửi của nghệ thuật…cách sống của tâm hồn.”

b. Luận đề của văn bản là gì? Xác định bố cục và luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý sau:

Bố cục

Luận điểm

Phần 1 (Từ đầu đến “cách sống của tâm hồn”

Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ.

Phần 2 …

...

Phần 3 …

....

c. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Những lí lẽ, bằng chứng trong đoạn cuối văn bản đã làm sáng tỏ luận đề như thế nào?

d. Em ấn tượng nhất với đoạn văn nào trong bài viết? Hãy chia sẻ ấn tượng ấy với các bạn.

đ. Có bạn trẻ cho rằng: Khi đọc tác phẩm truyện, chỉ cần tập trung vào cốt truyện cho thỏa trí tò mò là đủ. Em có đồng ý với cách đọc này không? Từ nội dung văn bản và trải nghiệm đọc của bản thân, hãy trao đổi với bạn về cách đọc mà em cho là phù hợp nhất.

Xem lời giải >>

Bài 21 :

 Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử là gì?

Xem lời giải >>

Bài 22 :

Vẽ sơ đồ xác định cấu trúc của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử.

Xem lời giải >>

Bài 23 :

Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn trình bày thông tin theo (những) cách nào? Vì sao?

Xem lời giải >>

Bài 24 :

Bài phỏng vấn là gì? Có mấy cách phân loại bài phỏng vấn?

Xem lời giải >>

Bài 25 :

Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn.

Xem lời giải >>

Bài 26 :

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

                                              Theo Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh

Đất Mũi Cà Mau – nơi cực Nam của đất nước được khai phá vào cuối  thế kỉ XVIL đầu thế kỉ XVIII, gắn liền với sự quản tụ của ba dân tộc: Kinh, Hoa, Kh mẻ. Do vậy, nơi đây có sự giao thoa những nét sinh hoạt văn hóa đa sắc tộc được thể hiện qua nhiều phong tục, tập quân phong phú và đặc sắc.

        Xưa có người kể rằng, những cư dân nơi Mũi Cà Mau là những người hùng ở phía Bắc vì không chịu được sự bóc lột của đế quốc phong kiến đã bỏ làng, bỏ đất mà đi về phương Nam. Họ cứ đi, đi mà đặc biệt Cà Mau, mảnh đất cuối cùng của đất nước vốn được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi và dừng lại để sinh cơ, lập nghiệp. Càng gắn bó với đất, với rừng, họ càng thấu hiểu câu nói: "Đất lành chim đậu", "Rừng là vàng, biển là bạc"....

      Lịch sử hình thành, vị trị toạ lạc, diện tích

       Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002, nằm trên địa bàn huyện Năm Căn và Ngọc Hiến, tỉnh Cà Mau, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 400km, nơi có cột mốc cuối cùng của Việt Nam trên đất liền, với tổng diện tích: 41862 ha, trong đó diện tích trên đất liền là 15 262 ha, diện tích ven biển là 26 600 ha – một vùng đất ngập mặn với quần thể thực vật chiếm ưu thế là cây đước, cây mắm³. Đây là một hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hoá và lịch sử.

      Đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và vùng châu Á - Thái Bình Dương, du khách có thể thoả sức khám phá, tìm hiểu những nét đặc trưng độc đáo về địa lí tự nhiên và địa mạo tạo nên vùng sinh thái của sông, ven biển có một không hai ở Việt Nam.

              Sẽ thật là thú vị khi bạn được lênh đênh bằng xuồng máy trên các sông, rạch, với những buổi đi xuyên rừng đước, thoả thích chụp ảnh các loài chim, thú, hít thở bầu không khí trong lành và lắng nghe những âm thanh vọng về từ cây lá, chim muông,... Du khách cũng sẽ rất ngạc nhiên và thích thú khi được biết Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm" với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện. Nơi đây hiện có hơn 100 loài động vật quý hiếm đang sinh sống.

            Quần thể động thực vật phong phú

             Do điều kiện thiên nhiên đặc trưng nên hệ động vật của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau rất phong phú, đa dạng với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ, trong đó có hai loài trong Sách đỏ thế giới IUCN là khỉ đuôi dài và con cà khu². Một số loài phổ biến thường gặp là rái cá, sóc, chồn, khỉ,... Hằng năm, vào tháng Tám, những đàn chim di cư về rừng đước làm tổ, sóm chiều theo con nước kiếm ăn, bầu trời rừng đước lại rộn rã như ngày hội. Lớp chim ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có hơn 74 loài thuộc 23 họ, trong đó có 5 loài có trong Sách đỏ của IUCN gồm cò Trung Quốc, bỏ nông chân xám, giang sen, rẽ mỏ cong hông nâu và quấn trắng.

          Theo thống kê của các nhà khoa học ở Đất Mũi, mỗi năm đất nơi đây lấn biển khoảng 100 mét, đi theo quá trình bồi tụ là sự sống của cây có và các loài sinh vật. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nơi đây bạt ngàn rừng ngập mặn, tiếng lá cây và tiếng gió biển hoà quyện vào nhau trong một không gian thanh bình, yên ả.

          Phải đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau mới thấy hết vẻ đẹp của những dãy rừng ngập mặn trù phú dọc theo bờ biển và bờ sông như những bức tường phòng hộ, chống gió, chống xói lở. Những loài cây ngập mặn tiên phong có tác dụng thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa, tích tụ mới ở biển. Điều kiện tự nhiên nơi đây cũng đã ngẫu nhiên tạo ra một môi trường sinh trưởng, phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể.

          Mũi đất hướng ra biển

           Nhìn trên bản đồ Việt Nam, mùi đất chỉ là một doi đất hơi nhọn hướng ra biển về phía tây, nhưng thực tế tại đây lại là một khoảng không gian rộng lớn, nơi đất mới bồi là một bãi sình lầy bằng phẳng, sâu trong đất liên là rừng đước xanh ngút ngàn. Phải phóng tầm mắt thật xa mới thấy thấp thoáng xóm Đất Mũi nằm lẫn với rừng cây. Còn khi nhìn về phía biển trong cái nắng chói chang có thể thấy mờ mờ hình dáng Hòn Khoai ngoài khơi xa. Không những thế, từ vọng hải đài, phóng tầm mắt ra khơi, quay mặt hứng luồng gió biển lồng lộng, hít thật sâu vào hai lá phối, du khách tưởng chừng như ngửi được mùi cá, mùi muối đặc trưng của vùng nước mặn mà từ đó cảm thấy Tổ quốc mình thật gần gũi, mến yêu.

            Đất Mũi được nhắc đến như một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú. Đến với Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biến, tham quan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến; chụp hình dưới chân biểu tượng Mũi Cà Mau và được chiêm ngưỡng nhiều điều kì thú khi hoàng hôn buông xuống, ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la. Bên trái là biển Đông, bên phải là biển Tây, đứng ở Mũi Cà Mau, du khách như đang đứng trên mũi tàu khổng lồ của Tổ quốc rẽ sóng ra khơi.

                                  (Theo Hỏi – đáp về những cánh rừng và vườn quốc gia Việt Nam, Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh, NXB Quân đội nhân dân, 2009, tr. 178-181)

Xem lời giải >>

Bài 27 :

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

CHUYỆN TRÒ VỀ THƠ VỚI HUY CẬN

Theo Phan Hoàng

        Huy Cận là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn sót lại của phong trào Thơ mới. Vừa đặt chân đến Hà Nội, chúng tôi (sáu người trong đoàn nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh) tham dự hội nghị công tác Nhà văn trẻ toàn quốc lần thứ IV, rời nhà khách Chính phủ để đến thấp hương cho nhà thơ Xuân Diệu và thăm nhà thơ Huy Cận. Buồn thay, nhà thơ Huy Cận vắng nhà. Nhưng rồi chúng tôi cũng đã được gặp ông trong hội nghị. Và ông đã dành riêng cho chúng tôi một cuộc chuyện trò thủ vị về thơ.

[...]

– Cái tên Huy Cận không xa lạ gì đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại. Nhưng để đi đến đỉnh cao vinh quang ấy, chàng Huy Cận bắt đầu từ đâu, thưa ông?

- Hồi nhỏ tôi rất thích thơ. Quê hương tôi lại là vùng có truyền thống văn nghệ. Tôi sinh năm 1919, tại làng An Phú thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Bố tôi là một ông đổ Nho đậu Tam trường, có biết tiếng Tây. Ông đi làm hương sư, sau chán, trở về quê cày ruộng và mở lớp dạy chữ Hán. Bố tôi rất mê văn chương, thuộc Truyện Kiểu kinh khủng và hay bình Kiều. Mẹ tôi cũng mê Kiều và nể phục tài của chồng.

      Còn cái làng tôi thì yêu văn nghệ vô cùng. Vào những đêm trăng thanh gió mát, nhất là vào mùa hè, thường là cả xóm kéo nhau ra bãi cát, gọi là bài Giang, để hát dặm hát ví với nhau. Nam nữ thanh niên ứng khẩu những câu ví dặm rất hay, rất tỉnh. Không khí thơ mộng chưa thấy ở bất cứ đâu. Và nhiều cuộc tình duyên cũng đã nảy nở, hình thành trong hoàn cảnh ấy.

       Nhà nghèo, nên tôi phải sớm vào Huế nhờ ông cậu nuôi ăn học. Lúc bấy giờ mới bảy tuổi, tôi chưa biết Kiều là gì. Nhưng đêm đêm, có ông quản gia nhà bà con với tôi nằm đọc Kiều sang sảng: “Đề huề lưng túi gió trăng/ Sau lưng theo một vài thằng con con..”. Tôi không biết “đề huế” là gì, “lưng túi” là gì, nhưng vẫn thấy rất hay.

       Tất cả những cái đó làm cho mình đâm ra thích thơ, mặc dù tôi là thẳng học sinh giỏi cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, nhưng rất mê thơ.

- Ông bắt đầu làm thơ từ khi nào?

- Lúc học ở Huế, năm lớp nhất thành chung, mười ba tuổi, tôi làm những bài thơ đầu tiên. Năm đệ tam, mười sáu tuổi, tôi mới có thơ đăng báo ở Huế như Tràng An, Sông Hương,... Đến năm mười tám tuổi, thơ tôi đăng liên tiếp ở bào Ngày nay. Và tôi bắt đầu nổi tiếng từ đó.

- Là nhà thơ rất thành công về thể thơ lục bát, ông nghĩ gì về thể thơ này?

- Lục bát là thể thơ rất Việt Nam, như là hơi thở của giống nòi. Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học thì thơ Việt Nam có ba giai đoạn lục bát: lục bát của ca dao, lục bát của Nguyễn Du và lục bát của Huy Cận. Còn lục bát khác cũng có nhiều cái hay, nhưng nó không hẳn thành ra một giai đoạn lục bát.

         Tại sao tôi viết được lục bát như vậy? Trước tiên là mê Kiều. Nhưng mê Kiều thì cũng có nhiều người mê kia mà? Điều quan trọng là lục bát thấm vào tôi từ nhỏ với những bài ví dặm câu năm chữ xen những câu lục bát. Như bài Mẹ goi con côi cực hay:

Cục lòng mẹ quá con ôi

Đi thời thương tiếc phải ngồi nuôi con

Ru duyên hơi, phận hơi

Ru duyên hơi, phận hơi

Ru duyên hơi, phận hơi

Ru con ăn con nhỏi

Ru non nước tình chung

Ru xuân hạ thu đông

Ru bốn mùa ở tình cảnh

Bóng trăng lên xấp xánh...

- Theo ông, lục bát Huy Cận khác gì lục bát Nguyễn Bính?

- Có loại lục bát vè. Có loại lục bát thơ. Lục bát của Nguyễn Bính và lục bát Huy Cận đều là lục bát thơ. Thơ lục bát của tôi cô đọng, đông đặc, nhưng không bí hiểm. So với Nguyễn Bính thì lục bát Huy Cận có phần cô đúc, sâu lắng hơn. Lục bát Nguyễn Bính gắn với ca dao, có chất thơ.

- Ông nghĩ gì về lục bát của các nhà thơ hôm nay?

– Có nhiều bài lục bát tài tình đấy. Như Cây tre của Nguyễn Duy chẳng hạn. Kĩ thuật lục bát bây giờ của nhiều anh cũng tài cũng nhuyễn. Thế nhưng, để có cái hồn riêng của từng người thì thật khó.

- Nhà thơ bây giờ như “là rụng mùa thu”, nhưng ít người có cái "riêng" chứ chưa nói là hay. Vậy theo ông, một nhà thơ trước hết cần tố chất gì?

– Tài năng. Anh bỏ hàng năm để làm một bài thơ, nhưng không có tài thì cũng hỏng. Nhưng tài năng thể hiện ở chỗ nào? Ở cảm xúc tổng thể, cảm xúc của trái tim, cảm xúc của cơ thể, cảm xúc của cả trí tuệ nữa, tức sự rung động về trí tuệ, vì nếu không thì anh làm xã luận, chứ không làm thơ được.

- Xin cảm ơn ông!

                        (In trong Phỏng vấn người Hà Nội, Phan Hoàng, NXB Trẻ, 2000)

Xem lời giải >>

Bài 28 :

Tìm từ ngữ/ khái niệm thích hợp điền vào chỗ trống và hoàn thành định nghĩa về truyện truyền kì.

Truyện truyền kì là một thể loại…., phản ánh hiện thực qua những yếu tố….

Xem lời giải >>

Bài 29 :

Nêu đặc điểm của không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện trong truyện truyền kì và đánh dấu vào ô có sử dụng yếu tố kì ảo để hoàn thành bảng sau.

Các yếu tố của truyện truyền kì

Đặc điểm

Có sử dụng yếu tố kì ảo

Không gian

Thời gian

Nhân vật

Cốt truyện

Xem lời giải >>

Bài 30 :

Phân tích tính cách của nhân vật Vũ Thị Thiết, Trương Sinh trong Chuyện người con gái Nam Xương và cho biết tính cách của nhân vật Trương Sinh đã góp phần làm nổi bật tính cách của Vũ Thị Thiết như thế nào.

Xem lời giải >>