Ở một trường Trung học cơ sở, tỉ lệ học sinh khối 6, 7, 8, 9 lần lượt là 28%, 25%, 25% và 22%. Chọn ngẫu nhiên 1 học sinh của trường. Tính xác suất của mỗi biến cố sau:
A: “Học sinh được chọn thuộc khối 6”
B: “Học sinh được chọn khối 7”.
Trong phép thử ngẫu nhiên, hai kết quả đồng khả năng nếu chúng có khả năng xảy ra như nhau.
Xác suất của biến cố A được tính bởi công thức:
\(P(A) = \frac{{n(A)}}{{n(\Omega )}}\), trong đó n(A) là số kết quả thuận lợi cho A; \(n(\Omega )\) là số các kết quả có thể xảy ra.
Gọi N là tổng số học sinh của trường.
Số học sinh khối 6 của trường là 0,28N.
Số học sinh khối 7 của trường là 0,25N.
Khi thực hiện phép thử chọn ngẫu nhiên 1 học sinh của trường, số kết quả có thể xảy ra là \(n(\Omega ) = N\).
Số kết quả thuận lợi cho biến cố A là n(A) = 0,28N.
Xác suất của biến cố A là \(P(A) = \frac{{0,28N}}{N} = 0,28\).
Số kết quả thuận lợi cho biến cố A là n(B) = 0,25N.
Xác suất của biến cố A là \(P(B) = \frac{{0,25N}}{N} = 0,25\).












Danh sách bình luận