Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
ĐẤT NỨT CON BỌ HUNG
Từ bé Quỳnh đã nổi tiếng học giỏi và đối đáp nhanh. Trong làng có ông Tú Cát rất hợm hĩnh mình, đi đâu cũng khoe mình hay chữ. Quỳnh rất ghét những loại người như vậy. Một hôm Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám trong chuồng, Tú Cát đi qua trông thấy, liền gọi Quỳnh lại và bảo:
- Ta nghe đồn mày thông minh và có tài đối đáp. Bây giờ ta ra cho mày một câu đối, nếu không đối được, ta sẽ đánh đòn.
Nói rồi, Tú Cát lên giọng, gật gù ngâm nga:
- Lợn cấn ăn cám tốn.
Tú Cát nghĩ rằng câu này rất khó đối, ví “cấn” và “tốn” là hai quẻ trong kinh Dịch nào ngờ. Quỳnh đối lại ngay: “Chó khôn chớ cắn càn.”
Vế này cũng có “khôn” và “càn” là tên hai quẻ trong kinh Dịch, đồng thời lại có ý xỏ Tú Cát là chó. Không ngờ bị chơi đau như vậy, Tú Cát tức lắm, hằm hằm bảo:
- Được! Ta ra thêm vế nữa, phải đối lại ngay – rồi đọc – Trời sinh ông Tú Cát.
Quỳnh đối luôn:
- Đất nứt con bọ hung.
Tú Cát tức đến sặc tiết nhưng không làm gì được, vì Quỳnh đối rất chỉnh, đành lùi thủi bỏ đi.
Xác định thể loại của văn bản trên.
Xác định thể loại của văn bản trên.
Dựa vào đặc trưng thể loại
Thể loại: truyện cười
Giải thích:
Văn bản xây dựng tình huống đối đáp giữa Quỳnh và Tú Cát, tạo tiếng cười qua những câu đối bất ngờ, đồng thời dùng tiếng cười để đề cao trí thông minh của Quỳnh và phê phán thói hợm hĩnh, khoe khoang của Tú Cát.
Truyện cười là thể loại tự sự dân gian chứa đựng yếu tố gây cười, nhằm mục đích giải trí, hoặc phê phán, châm biếm, đả kích những thói hư, tật xấu trong cuộc sống.
⇒ Truyện cười là một trong những biểu hiện sinh động cho tính lạc quan, trí thông minh sắc sảo của tác giả dân gian.
Link tham khảo: Truyện cười là gì

Nhân vật Quỳnh và ông Tú Cát thể hiện đặc điểm nào của nhân vật truyện cười? Chỉ ra thái độ, cách nhìn nhận của tác giả dân gian với hai nhân vật này.
Nhân vật Quỳnh và ông Tú Cát thể hiện đặc điểm nào của nhân vật truyện cười? Chỉ ra thái độ, cách nhìn nhận của tác giả dân gian với hai nhân vật này.
Dựa vào hành động, lời nói và cách ứng xử của từng nhân vật để xác định kiểu nhân vật và thái độ của tác giả dân gian.
Nhân vật Trạng Quỳnh thuộc kiểu nhân vật thông minh, dùng trí tuệ để trêu chọc, lật tẩy các thói hư tật xấu trong xã hội. Nhân vật ông Tú Cát thuộc kiểu nhân vật đại diện cho một thói xấu của xã hội, là đối tượng mà tiếng cười nhắm đến. Thái độ của tác giả dân gian: tôn vinh, đồng tình với Trạng Quỳnh; phê phán, chê cười ông Tú Cát.
Giải thích:
Quỳnh còn nhỏ nhưng có khả năng đối đáp nhanh và sắc sảo. Trước những câu đối tưởng như rất khó của Tú Cát, Quỳnh đều đối lại ngay và còn khéo léo mỉa mai chính người ra câu đối. Ngược lại, Tú Cát là người “hợm hĩnh”, luôn khoe mình hay chữ, muốn dùng câu đối để thử thách và làm nhục Quỳnh nhưng cuối cùng lại bị Quỳnh làm cho tức giận, ê chề và phải bỏ đi. Sự đối lập đó cho thấy cách nhìn của dân gian: trân trọng trí tuệ, sự nhanh trí và chính nghĩa; phê phán thói khoe khoang, tự phụ.
Nhân vật trong truyện cười gồm hai loại:
- Nhân vật mang thói xấu (lười biếng, tham ăn, keo kiệt,...) hoặc đại diện cho thói xấu của một tầng lớp xã hội → là đối tượng bị châm biếm, gây cười.
- Nhân vật tích cực thông minh, hóm hỉnh, dùng trí tuệ để vạch trần cái xấu hoặc thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời.
Một số link tham khảo:
Truyện cười là gì? Hình thức, bối cảnh và các thủ pháp gây cười
Chỉ ra một số mâu thuẫn gây cười của truyện dựa vào gợi ý sau:
Cứ ngỡ là …..
Thực tế là ……
Quỳnh là đứa trẻ, dù thông minh nhưng không thể đối lại những câu đối khó.
Ông Tú Cát là người học rộng (đỗ.... tú tài)…
.....
Chỉ ra một số mâu thuẫn gây cười của truyện dựa vào gợi ý sau:
|
Cứ ngỡ là ….. |
Thực tế là …… |
|
Quỳnh là đứa trẻ, dù thông minh nhưng không thể đối lại những câu đối khó. |
|
|
Ông Tú Cát là người học rộng (đỗ.... tú tài)… |
|
|
..... |
|
Tìm những chi tiết có sự đối lập giữa điều người đọc tưởng sẽ xảy ra và kết quả thực tế.
Một số mâu thuẫn gây cười của truyện:
|
Cứ ngỡ là...... |
Thực tế là........ |
|
Quỳnh là đứa trẻ, dù thông minh nhưng không thể đối lại những câu đối khó. |
Quỳnh đối lại trôi chảy, lại có ý mỉa mai ông Tú Cát. |
|
Ông Tú Cát là người học rộng (đỗ tú tài)… |
Ông Tú Cát thua cậu bé Quỳnh trong màn đối đáp, nhận về sự ê chề, xấu hổ. |
|
Những câu đối của Tú Cát tưởng như rất hoàn chỉnh và không thể đối lại được. |
Những câu đối của Quỳnh đối lại rất chỉnh và còn có ý mỉa mai Tú Cát. |
Giải thích:
Các mâu thuẫn gây cười đều dựa trên sự đảo ngược giữa dự đoán và kết quả. Tú Cát vốn tự cho mình là người hay chữ, lại chủ động ra câu đối để thử thách Quỳnh, nhưng cuối cùng người tưởng sẽ thắng lại là người thua. Quỳnh vốn chỉ là một đứa trẻ nhưng lại khiến Tú Cát tức đến sặc tiết, không làm gì được và phải bỏ đi. Sự đảo ngược ấy tạo tiếng cười và làm nổi bật trí thông minh của Quỳnh.
Một số thủ pháp thường gặp:
- Tạo tình huống trào phúng: mâu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa thật và giả, giữa lời nói và hành động…
- Kết hợp khéo léo lời người kể chuyện và lời nhân vật hoặc lời của các nhân vật, tạo nên những liên tưởng, đối sánh bất ngờ, hài hước, thú vị
- Sử dụng các biện pháp tu từ giàu tính trào phúng (lối nói khoa trương, phóng đại, chơi chữ,…)
Một số link tham khảo:
Truyện cười là gì? Hình thức, bối cảnh và các thủ pháp gây cười
Chỉ ra một số thủ pháp gây cười được sử dụng trong truyện (xây dựng tình huống, ngôn ngữ).
Chỉ ra một số thủ pháp gây cười được sử dụng trong truyện (xây dựng tình huống, ngôn ngữ).
Xét hai phương diện: cách xây dựng tình huống và cách sử dụng ngôn ngữ, lời đối đáp.
Một số thủ pháp gây cười được sử dụng:
- Xây dựng tình huống gây cười bằng cách khai thác các mâu thuẫn gây cười, cốt truyện có tính chất tăng tiến, gây bất ngờ, thể hiện rõ sự tôn vinh của nhân dân với trí tuệ của Trạng Quỳnh và thái độ cười chê với thói khoe khoang, hợm hĩnh của ông Tú Cát.
- Kết hợp khéo léo lời đối đáp của hai nhân vật, vận dụng phép chơi chữ đầy bất ngờ, thể hiện trí tuệ của nhân vật Quỳnh và tinh hoa văn hóa của người xưa.
Giải thích:
Tình huống gây cười được đẩy lên từng bước: Tú Cát đưa ra câu đối thứ nhất với vẻ tự tin, đắc ý, nhưng Quỳnh lập tức đối lại và còn ngầm ví Tú Cát với “chó”. Không chịu thua, Tú Cát lại ra câu đối thứ hai nhưng tiếp tục bị Quỳnh đáp lại bằng “Đất nứt con bọ hung”, biến hình ảnh một ông Tú vốn tự đề cao mình thành hình ảnh nhỏ bé, đáng khinh. Đặc biệt, việc sử dụng các từ ngữ có liên hệ với Kinh Dịch trong câu đối vừa thể hiện tài đối đáp của Quỳnh vừa tạo sắc thái hài hước, châm biếm.
Một số thủ pháp thường gặp:
- Tạo tình huống trào phúng: mâu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài, giữa thật và giả, giữa lời nói và hành động…
- Kết hợp khéo léo lời người kể chuyện và lời nhân vật hoặc lời của các nhân vật, tạo nên những liên tưởng, đối sánh bất ngờ, hài hước, thú vị
- Sử dụng các biện pháp tu từ giàu tính trào phúng (lối nói khoa trương, phóng đại, chơi chữ,…)
Một số link tham khảo:
Truyện cười là gì? Hình thức, bối cảnh và các thủ pháp gây cười
Qua truyện cười trên, thông điệp mà em tâm đắc nhất là gì?
Qua truyện cười trên, thông điệp mà em tâm đắc nhất là gì?
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Thông điệp của câu chuyện khiến em tâm đắc nhất: đừng nên khoe khoang, hợm hĩnh; cần bảo tồn, tôn vinh nghệ thuật đối đáp bởi đó là nét đẹp văn hóa của dân tộc; đừng trông mặt mà bắt hình dong;…
Giải thích:
Tú Cát vì hợm hĩnh, khoe mình hay chữ nên chủ động thử tài Quỳnh để chứng tỏ bản thân. Tuy nhiên, ông lại liên tiếp bị Quỳnh đối đáp khiến mình tức giận và ê chề. Qua đó, truyện nhắc nhở mỗi người rằng kiến thức và năng lực thực sự không cần phải khoe khoang, còn sự tự phụ có thể khiến con người trở thành đối tượng của tiếng cười. Đồng thời, ta cũng cần biết tôn trọng người khác, không coi thường người nhỏ tuổi hoặc có vẻ ngoài bình thường.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?








Danh sách bình luận