+) Theo phương án 1: Gọi \((u_n)\) là dãy số tiền lương của người lao động theo phương án 1 qua mỗi năm. Dãy số \((u_n)\) lập thành một cấp số cộng có số hạng đầu \(u_1 = 120\) và công sai d = 18.
Khi đó số hạng tổng quát của cấp số nhân là: \(u_n = 120 + (n – 1).18\).
+) Theo phương án 2: Gọi \((v_n)\) là dãy số tiền lương của người lao động theo phương án 2 qua từng quý. Dãy số \((v_n)\) lập thành một cấp số cộng có số hạng đầu \(v_1 = 24\) và công sai d = 1,8.
Khi đó số hạng tổng quát của cấp số nhân là \(v_n = 24 + (n – 1).1,8\).
a) Khi kí hợp đồng 3 năm tương đương với 12 quý ta có:
+) Theo phương án 1: \(u_3 = 120 + (3 – 1).18 = 156\) (triệu đồng)
Tổng số tiền lương nhận được sau 3 năm là:
\(S_3=\frac{3.(120+156)}{2}= 414\) (triệu đồng).
+) Theo phương án 2: \(u_{12} = 24 + (12 – 1).1,8 = 43,8\).
Tổng số tiền lương nhận được sau 3 năm tương ứng với 12 quý là:
\(S_{12}=\frac{12.(24+43,8)}{2}= 406,8\) (triệu đồng).
Vậy nếu được tuyển dụng vào doanh nghiệp và kí hợp đồng lao động 3 năm thì nên theo phương án 1.
b) Khi kí hợp đồng 10 năm tương đương với 40 quý ta có:
+) Theo phương án 1: \(u_{10} = 120 + (10 – 1).18 = 282\) (triệu đồng)
Tổng số tiền lương nhận được sau 10 năm là:
\(S_{10}=\frac{10.(120+282)}{2}= 2010\) (triệu đồng).
+) Theo phương án 2: \(u_{40} = 24 + (40 – 1).1,8 = 94,2\).
Tổng số tiền lương nhận được sau 10 năm tương ứng với 40 quý là:
\(S_{12}=\frac{40.(24+94,2)}{2}= 2 364\) (triệu đồng).
Vậy nếu được tuyển dụng vào doanh nghiệp và kí hợp đồng lao động 10 năm thì nên theo phương án 2.
Danh sách bình luận