-
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích truyện “Cổ tích” của tác giả Lê Văn Nguyên
Lê Văn Nguyên là nhà văn có ngòi bút đôn hậu, ông thường viết về những mảnh đời nhỏ bé trong xã hội bằng niềm cảm thông sâu sắc và truyện ngắn "Cổ tích" là một minh chứng điển hình. Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ định mệnh giữa bà cụ bán kẹo nghèo khổ và chị cỏ bò đơn độc tại gốc đa ven đê vào một trưa hè nắng lửa. Dù sống trong túp lều rách nát tựa chân tòa nhà cao tầng đầy đối lập, họ vẫn nương tựa vào nhau để thắp lên ngọn đèn hạnh phúc gia đình. Tác giả đã khéo léo xây dựng tình huống bất ngờ khi bà cụ qua đời và để lại những chiếc nhẫn vàng cho người con nuôi hiếu thảo. Thông qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và giọng điệu trầm buồn, truyện ngợi ca tình người ấm áp giữa những kẻ lầm than và triết lý ở hiền gặp lành sâu sắc. Tác phẩm giúp người đọc tin rằng giữa thực tại khắc nghiệt, lòng nhân ái chính là phép màu kỳ diệu nhất để con người vượt qua mọi nghịch cảnh.
Xem thêm >> -
Phân tích thái độ và hành động của bé Thu qua hai đoạn trích sau: "Trong bữa cơm đó...vết thẹo dài bên má của ba nó nữa." trong truyện Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)
Nguyễn Quang Sáng là nhà văn gắn bó sâu sắc với mảnh đất Nam Bộ, và "Chiếc lược ngà" chính là tác phẩm cảm động nhất của ông về tình phụ tử trong chiến tranh. Qua hai đoạn trích, người đọc thấy rõ sự thay đổi thái độ của bé Thu đối với ông Sáu: từ cự tuyệt quyết liệt đến gắn bó mật thiết.
Vốn chỉ biết ba qua tấm ảnh cũ, Thu mang cá tính mạnh mẽ và cực kỳ kiên định. Trong bữa cơm, khi ông Sáu gắp trứng cá cho, Thu đã "bất thần hất cái trứng ra" khiến cơm văng tung tóe. Ngay cả khi bị đánh, em không khóc mà chỉ lầm lì, lặng lẽ gắp trứng cá lại rồi bỏ sang nhà ngoại. Sự bướng bỉnh này thực chất bắt nguồn từ tình yêu mãnh liệt dành cho người cha trong tấm ảnh; em không chấp nhận người đàn ông có vết sẹo lạ mặt kia. Tuy nhiên, đến lúc chia tay, khi đã hiểu rõ sự thật, tình cảm trong em vỡ òa. Tiếng gọi "Ba" như tiếng xé, giải tỏa nỗi dồn nén suốt tám năm. Thu chạy thót lên ôm chặt lấy cổ ba, hôn cả vết thẹo dài trên má. Hành động này chứng tỏ tình ruột thịt đã chiến thắng mọi khoảng cách.
Với nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế và ngôn ngữ Nam Bộ bình dị, tác giả đã khắc họa thành công một bé Thu gan góc nhưng trái tim vô cùng ấm áp, đồng thời tố cáo sự nghiệt ngã của chiến tranh đã chia cắt tình thâm.
Xem thêm >> -
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật người bà trong đoạn trích "Trong căn bếp nhỏ, ánh lửa lập lòe ... Tôi cũng khóc tu tu như một đứa trẻ" trong Nội tôi của Đỗ Ngọc Thái
Đỗ Ngọc Thái là cây bút có lối viết mộc mạc, giàu cảm xúc, điều đó thể hiện rõ qua truyện ngắn "Nội tôi". Tác phẩm là dòng hồi ức cảm động về tình bà cháu, nổi bật với hình ảnh người nội không chỉ là người bà hiền hậu mà còn là điểm tựa tinh thần lớn lao cho người cháu mồ côi, một biểu tượng của sự tảo tần và tình yêu thương vô bờ bến.
Bà hiện lên qua cái nhìn của cháu với dáng người "cong giòn như một cành củi khô" và đôi bàn tay nhăn nheo, chai sần – dấu ấn của một đời gánh vác nạn đói, chồng mất sớm, nuôi con rồi lại nuôi cháu. Sự tảo tần ấy kết tinh trong hành động dậy từ tờ mờ sáng nấu xôi, tỉ mỉ chuẩn bị từng chiếc bàn chải cho cháu nhập ngũ. Không chỉ chăm sóc, bà còn là người mẹ thứ hai nuôi cháu bằng nước cơm và tình nghĩa xóm giềng từ khi mới năm tháng tuổi. Bà thấu cảm nỗi lo của cháu khi đi xa, gạt đi tất cả bằng lời khẳng định chắc nịch để cháu yên tâm phấn đấu. Đặc biệt, những tờ tiền cũ kỹ bà dúi cho cháu là minh chứng cho đức hy sinh tận cùng. Nam Cao đã khéo léo dùng ngôi kể thứ nhất cùng hình ảnh so sánh giàu sức gợi để làm bật lên một người bà mạnh mẽ nhưng cũng đầy cảm xúc khi khóc tiễn cháu thành tài.
Nhân vật bà chính là hình ảnh điển hình của phụ nữ Việt Nam vị tha, là động lực để người cháu vững bước. Qua đó, mỗi chúng ta cần biết trân trọng và hiếu thảo với những người thân yêu khi còn có thể.
Xem thêm >> -
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người”. Em hãy viết bài văn phân tích nhân vật “tôi” trong câu chuyện Người ăn xin (Tuốc-ghê-nhép) để làm sáng tỏ ý kiến trên
Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng quan niệm: “Nhà văn phải là người đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn của con người”. Thông qua truyện ngắn Người ăn xin của Tuốc-ghê-nhép, hành trình đi tìm những giá trị nhân bản ấy đã hiện lên rực rỡ qua nhân vật “tôi”.
“Hạt ngọc ẩn giấu” chính là những phẩm chất cao quý như lòng nhân hậu, sự vị tha bị che lấp bởi vẻ ngoài nghèo khổ hay hoàn cảnh éo le. Thiên chức của nhà văn là phải thấu cảm lớp vỏ bọc ấy để ngợi ca vẻ đẹp bên trong. Trong tác phẩm, nhân vật “tôi” đối diện với một người ăn xin thảm hại: mắt đỏ khè, quần áo tả tơi. Dù lúng túng vì không có tiền bạc, “tôi” vẫn thể hiện sự chân thành khi “lục hết túi này túi kia”. Cử chỉ “nắm chặt bàn tay run rẩy” và lời xin lỗi lễ phép: “Xin ông đừng giận cháu” đã xóa tan khoảng cách giữa người cho và người nhận, khẳng định sự bình đẳng và tôn trọng người ăn xin của cậu bé. Khoảnh khắc ấy, “tôi” nhận ra mình cũng vừa nhận được một “hạt ngọc” vô giá – đó là sự đồng cảm thiêng liêng. Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế và ngôi kể thứ nhất giàu chất trữ tình, tác giả đã tìm thấy sự cao thượng ngay trong cảnh đời nghèo nàn nhất.
Nhân vật chú bé thực sự là một hạt ngọc sáng lấp lánh, đại diện cho lòng nhân ái. Câu chuyện để lại bài học sâu sắc về sức mạnh của sự thấu hiểu và cách nhìn nhận vẻ đẹp tâm hồn con người trong cuộc sống.
Xem thêm >> -
Viết bài văn phân tích nhân vật Thầy Đuy - sen trong phần trích của tác phẩm “ Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai - tơ - ma - tốp. Trong bài viết có liên hệ với phẩm chất của một người thầy tiêu biểu mà em khâm phục nhất (có thể là một người thầy trong x
Ai-tơ-ma-tốp là nhà văn lớn của Cư-rơ-ghư-xtan với những tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân đạo. Trong đó, "Người thầy đầu tiên" là truyện ngắn xuất sắc về đề tài giáo dục, nổi bật với hình tượng thầy Đuy-sen – người thầy không chỉ dạy chữ mà còn gieo mầm hy vọng cho những đứa trẻ nghèo vùng núi cao.
Vào những năm đầu sau Cách mạng tháng Mười Nga, tại vùng quê hẻo lánh lạc hậu, thầy Đuy-sen đã một mình sửa sang căn nhà kho cũ nát thành trường học. Thầy kiên trì đắp lò sưởi, trải rơm làm nền và tận tình vận động các em nhỏ đến lớp. Hình ảnh thầy "lưng thì cõng, tay thì bế" học trò qua con suối đóng băng lạnh buốt giữa những lời nhạo báng của bọn nhà giàu cho thấy tình yêu thương vô bờ bến. Thầy không màng đến sự khinh miệt, chỉ lo cho An-tư-nai khi em bị ngã xuống suối, ân cần xoa chân và hà hơi ấm cho trò. Chính nghị lực và sự hy sinh thầm lặng ấy đã mở ra con đường ra thành phố cho cô bé mồ côi. Bằng ngôi kể thứ nhất linh hoạt và nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, tác giả đã khắc họa một chân dung đầy cảm động giữa thiên nhiên khắc nghiệt.
Nhân vật Đuy-sen khiến em liên tưởng đến thầy Chu Văn An – người thầy mẫu mực của Việt Nam. Cả hai đều mang tâm thế không vì danh lợi, coi học trò là trung tâm và truyền đi ngọn lửa tri thức mãnh liệt. Thầy Đuy-sen là biểu tượng bất diệt của người thầy giáo nhân dân, để lại trong lòng em sự xúc động sâu sắc về tình thầy trò thiêng liêng.
Xem thêm >> -
Viết bài văn về một câu chuyện mà em yêu thích
Đọc sách không chỉ để giải trí mà còn giúp ta thấu hiểu những mảnh đời bất hạnh, từ đó nuôi dưỡng lòng trắc ẩn. Truyện ngắn "Nhà mẹ Lê" của Thạch Lam là một tác phẩm chân thực, cảm động về số phận cực khổ của người nông dân trước Cách mạng, đồng thời ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng.
Câu chuyện xoay quanh gia đình bác Lê – một người đàn bà ngụ cư nghèo khổ nuôi mười một đứa con nhỏ tại phố chợ Đoàn Thôn tiêu điều. Khi mùa đói đến, bác liều mình sang nhà ông Bá xin gạo nhưng bị chó tây cắn nát chân, dẫn đến cái chết thương tâm. Em vô cùng xúc động trước tình thương con của mẹ Lê; dù trong cơn đói khát, bác vẫn dành hết sự sống cho đàn con. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật tương phản giữa sự tàn độc của nhà giàu và lòng nhân hậu của những người hàng xóm nghèo để làm bật lên giá trị nhân đạo. Qua ngôi kể thứ ba khách quan, hình ảnh mẹ Lê trở thành nỗi ám ảnh về tình mẹ cao cả.
Tác phẩm nhắc nhở em phải biết trân trọng cuộc sống ấm no và thấu cảm với những kiếp người nhỏ bé. Đây là một câu chuyện giàu giá trị mà mọi người nên đọc để làm giàu thêm tâm hồn mình.
Xem thêm >> -
Phân tích truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân)
Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về nạn đói năm 1945, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh đến tàn nhẫn, nhưng cũng chính ở đó ánh lên vẻ đẹp của tình người và khát vọng sống mãnh liệt.
Đoạn trích trên tập trung khắc họa tình huống “nhặt vợ” độc đáo và diễn biến tâm lí nhân vật Tràng trong bối cảnh cái đói bao trùm.
Trước hết, hình ảnh Tràng được miêu tả ở hai thời điểm đối lập đã làm nổi bật sự khốc liệt của nạn đói. Trước kia, mỗi chiều hắn đi làm về trong tiếng reo hò của trẻ con, một không khí tuy nghèo nhưng vẫn có sinh khí. Nhưng “độ này”, khi cái đói tràn về, xóm ngụ cư trở nên tiêu điều, con người “xanh xám như những bóng ma”, “người chết như ngả rạ”. Không gian ấy không chỉ là phông nền mà còn là lực ép khủng khiếp đẩy con người đến bờ vực sinh tồn. Trong bối cảnh ấy, việc Tràng “nhặt” được vợ trở thành một nghịch lí đầy ám ảnh: giữa cái chết lại nảy sinh một sự gắn kết của sự sống.
Tình huống truyện được xây dựng vừa bi thương vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Người đàn bà theo Tràng chỉ vì “bốn bát bánh đúc”, một chi tiết hiện thực trần trụi phơi bày sự cùng quẫn của con người khi bị cái đói dồn ép. Nhưng đằng sau cái quyết định tưởng như liều lĩnh ấy lại là khát vọng được sống, được nương tựa. Còn Tràng, từ một lời nói đùa “tầm phơ tầm phào”, lại chấp nhận “chặc, kệ!”, đưa người đàn bà về làm vợ. Cái “kệ” ấy không phải vô trách nhiệm, mà là một sự lựa chọn bản năng của lòng thương người và nhu cầu có một mái ấm.
Diễn biến tâm lí Tràng là điểm sáng của đoạn trích. Khi dẫn vợ về, hắn “phởn phơ”, “tủm tỉm cười”, có chút tự đắc rất “người”. Nhưng xen lẫn niềm vui là sự ngượng ngùng, lo lắng, thậm chí “sờ sợ” khi bước vào thực tại. Đặc biệt, trong buổi sáng hôm sau, tâm trạng Tràng có bước chuyển biến rõ rệt: từ một người đàn ông thô kệch, vô lo, hắn trở nên ý thức về trách nhiệm, “thấy mình nên người”, “thấy phải lo cho vợ con”. Chính tình huống có vợ đã đánh thức phần người sâu kín trong Tràng, làm nảy nở ý thức về gia đình và tương lai.
Nhân vật người vợ nhặt cũng được khắc họa tinh tế. Ban đầu thị chao chát, chỏng lỏn, thậm chí “cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc”, nhưng khi về làm dâu, thị trở nên e thẹn, ý tứ, đảm đang. Sự thay đổi ấy cho thấy phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ: dù hoàn cảnh có xô đẩy đến đâu, họ vẫn hướng về nề nếp gia đình và sự ổn định.
Đặc biệt, hình ảnh bà cụ Tứ là điểm kết tinh của tình người. Phản ứng của bà khi biết con có vợ rất phức tạp: vừa mừng, vừa tủi, vừa lo. Những giọt nước mắt của bà không chỉ là nỗi xót xa cho số phận con mà còn là sự thấu hiểu sâu sắc cảnh đời. Nhưng vượt lên tất cả, bà vẫn dang tay đón nhận nàng dâu bằng tấm lòng bao dung, gieo vào lòng các con niềm hi vọng bằng những câu chuyện về tương lai. Bát “chè cám” – chi tiết ám ảnh – vừa là biểu tượng của cái đói, vừa là biểu tượng của tình thương: trong cái nghèo tận cùng, người mẹ vẫn cố dành những gì tốt nhất cho con.
Giá trị nhân đạo của tác phẩm còn được thể hiện ở chi tiết kết thúc. Hình ảnh “lá cờ đỏ” và đoàn người “phá kho thóc Nhật” gợi mở một con đường sống, một lối thoát cho những con người đói khổ. Đó không chỉ là hi vọng cá nhân mà là ánh sáng của cách mạng, mở ra tương lai đổi thay cho cả cộng đồng.
Về nghệ thuật, tác phẩm thành công ở việc xây dựng tình huống truyện độc đáo, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Sự đối lập giữa cái đói và tình người, giữa bóng tối và ánh sáng hi vọng đã tạo nên chiều sâu tư tưởng cho truyện.
Đoạn trích đã thể hiện sâu sắc hiện thực thảm khốc của nạn đói năm 1945, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của tình người và niềm tin vào sự sống. Trong tận cùng của đói khát và cái chết, con người vẫn hướng về nhau, vẫn khao khát được sống và được yêu thương — đó chính là giá trị bền vững làm nên sức sống của Vợ nhặt.
Xem thêm >> -
"Anh/chị hãy viết bài văn (khoảng 500 chữ)phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật trong đoạn trích ""Trong cảnh trời đất lờ mờ ... một tị triết lý và tâm lý"" (Trích Chén trà sương - Nguyễn Tuân)"
Đoạn trích trong Chén trà sương của Nguyễn Tuân không chỉ tái hiện một cảnh sinh hoạt quen thuộc mà còn nâng nó lên thành một không gian nghệ thuật thấm đẫm chiều sâu văn hóa, triết lý và tâm lý con người.
Trước hết, cảnh “trời đất lờ mờ chưa đủ phân rõ phần đêm và phần ngày” mở ra một khoảnh khắc giao thời đặc biệt – khi vạn vật còn đang chuyển mình giữa tĩnh và động. Trong không gian ấy, hình ảnh cụ Ấm hiện lên với “phong thái một triết nhân ngồi rình bước đi của thời gian” đã gợi ra chiều sâu suy tưởng. Cụ không chỉ sống trong hiện tại mà còn chiêm nghiệm về dòng chảy vô hình của thời gian, về sự trôi đi chậm rãi nhưng không ngừng của đời người. Chính nhịp điệu chậm, kéo dài của đêm đông và những âm thanh lẻ tẻ (tiếng gà, tiếng bước chân, tiếng than nổ) đã góp phần làm nổi bật cảm thức ấy.
Nổi bật hơn cả là nghệ thuật miêu tả tinh vi, tỉ mỉ của Nguyễn Tuân trong việc khắc họa thú uống trà. Từ việc nhóm lửa, quan sát hòn than, lắng nghe tiếng nước sôi, đến động tác nâng chén, rót nước – tất cả đều được thực hiện với sự chăm chút gần như nghi lễ. Cái bình dị của đời sống thường nhật đã được “nghệ thuật hóa”, trở thành một thú chơi tao nhã, biểu hiện cho lối sống thanh cao, cầu kỳ nhưng không phô trương. Qua đó, ta thấy được quan niệm sống của nhân vật: trân trọng từng khoảnh khắc, nâng niu những giá trị tinh thần nhỏ bé.
Ẩn sâu trong đó là một “tí triết lý và tâm lý” như tác giả gợi mở. Triết lý ấy nằm ở sự chiêm nghiệm về quy luật sinh – diệt: hòn than cháy lên rồi tàn lụi, nước sôi rồi biến thể, tất cả như một ẩn dụ về đời người. Tâm lý con người được thể hiện qua niềm say mê, sự nâng niu và cả nỗi sợ “pha hỏng ấm trà đầu ngày” – một chi tiết nhỏ nhưng cho thấy sự cẩn trọng, tinh tế và tình yêu đối với cái đẹp trong đời sống.
Như vậy, đoạn văn không chỉ là một bức tranh sinh hoạt mà còn là một tác phẩm nghệ thuật giàu chất thơ, nơi Nguyễn Tuân gửi gắm quan niệm về cái đẹp, về lối sống thanh nhã và chiều sâu tâm hồn của con người Việt Nam xưa.
Xem thêm >> -
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết: “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” được nhắc đến trong văn bản “Đôi mắt” của Lê Đình Bích
Chi tiết “Chiến tranh thì sáng, mà hòa bình lại tối” trong truyện “Đôi mắt” là một nghịch lý đầy xót xa. Về nghĩa thực, “sáng” gắn với tên gọi Hai Sáng khi anh còn đôi mắt tinh anh để đọc thư cho đồng đội; còn “tối” là thực tại nghiệt ngã khi anh bị mù do giẫm phải mìn lúc hòa bình. Tuy nhiên, chiều sâu của câu nói nằm ở sự hy sinh thầm lặng: chiến tranh đã qua đi nhưng vết thương của nó vẫn “mọc rễ” trong lòng hòa bình. Sự đảo ngược khái niệm khiến người đọc bàng hoàng nhận ra cái giá đắt đỏ của độc lập. Dẫu đôi mắt anh đã khép lại trong bóng tối, nhưng tâm hồn anh vẫn rạng ngời ánh sáng của tình đồng chí, của lòng trung hậu qua những giọt nước mắt dành cho người nằm xuống.
Xem thêm >> -
Hãy viết một đoạn văn phân yếu tố nghệ thuật của truyện ngắn “Tặng một vầng trăng sáng” của nhà văn Lâm Thanh Huyền.
Nghệ thuật đặc sắc nhất của Lâm Thanh Huyền trong tác phẩm chính là việc xây dựng hình ảnh biểu tượng "vầng trăng sáng". Ban đầu, ánh trăng hiện ra như một thực thể thiên nhiên hữu hình, soi rọi cảnh vật núi rừng. Tuy nhiên, qua lời thoại và tâm niệm của vị thiền sư, "vầng trăng" đã thăng hoa trở thành biểu tượng của ánh sáng thiện lương và bản tính tốt đẹp trong mỗi con người. Việc trao tặng "vầng trăng" thực chất là sự đánh thức lương tri, dùng lòng vị tha để cảm hóa bóng tối trong tâm hồn kẻ cắp. Cách kết thúc truyện bằng hình ảnh chiếc áo được trả lại đã khẳng định sức mạnh của biểu tượng này: ánh sáng của lòng nhân ái có thể xua tan bóng tối của tham lam, giúp con người tìm về với bản ngã trong sạch.
Xem thêm >>






Danh sách bình luận