Quảng cáo
  • Viết bài văn phân tích Vội vàng (Xuân Diệu)

    Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”, mang đến cho thơ ca đương đại một sinh lực dào dạt và một cái tôi đầy khát khao giao cảm với đời. Thi phẩm "Vội vàng" (in trong tập Thơ thơ, 1938) chính là tuyên ngôn nhân sinh sâu sắc, thể hiện tình yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt và quan niệm thời gian đầy tiến bộ của nhà thơ.

    Ngay ở phần mở đầu, Xuân Diệu bộc lộ một ước muốn táo bạo, đi ngược lại quy luật tự nhiên để níu giữ vẻ đẹp của cuộc đời:

    “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”

    Điệp từ "Tôi muốn" kết hợp các động từ mạnh "tắt", "buộc" thể hiện cái tôi cá nhân đầy kiêu hãnh muốn đoạt quyền của tạo hóa. Nhà thơ muốn giữ lại sắc nắng vàng tươi và hương thơm của gió trời để thiên nhiên mãi mãi ở độ xuân thì.

    Khát vọng ấy xuất phát từ một nhãn quan tinh tế trước thiên nhiên trần thế đầy xuân sắc. Thế giới hiện lên qua ngòi bút Xuân Diệu như một khu vườn tình ái rộn ràng:

    “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất...”

    Phép liệt kê kết hợp điệp ngữ "này đây" dồn dập như bày biện trước mắt người đọc một bữa tiệc trần gian sung túc. Đặc biệt, câu thơ "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" đã cách tân táo bạo khi lấy mùa xuân làm giai nhân tuyệt sắc để thưởng thức. Nhìn thiên nhiên bằng lăng kính của ái tình, nhà thơ cảm nhận cuộc sống chưa bao giờ đáng yêu và tràn trề nhựa sống đến thế.

    Tuy nhiên, niềm vui ấy luôn trực chờ nỗi âu lo. Nhận thức rõ sự trôi chảy của thời gian một đi không trở lại (“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua... Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”), Xuân Diệu rơi vào bi kịch của thế hệ Thơ mới: thời gian vũ trụ là vô hạn nhưng đời người lại hữu hạn. Cảm giác chia phôi thấm đẫm trong từng ngọn cỏ, cánh chim khiến ông càng thêm tiếc nuối.

    Chính vì thế, khát vọng sống vội vàng, cuống quýt được bùng nổ ở khổ thơ cuối như một lẽ tất yếu:

    “Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu...”

    Hàng loạt điệp ngữ "Ta muốn" kết hợp các động từ mức độ tăng tiến (ôm, riết, say, thâu) diễn tả cơn khát sống đến cháy bỏng. Đỉnh cao của cảm xúc là cái kết táo bạo: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”. Động từ "cắn" thể hiện thái độ tận hưởng trọn vẹn, muốn nuốt trọn vẻ đẹp của tuổi trẻ và mùa xuân vào lồng ngực.

    "Vội vàng" không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà còn là bài học nhân sinh sâu sắc. Xuân Diệu đã dạy chúng ta biết trân quý từng phút giây của cuộc đời, sống hết mình, yêu chân thành để mỗi ngày trôi qua đều là một ngày ý nghĩa nhất.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Tự tình tháng ba (Bình Nguyên Trang)

    Thơ ca viết về mùa xuân và quê hương luôn có sức lay động kì lạ bởi nó chạm đến những góc khuất thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi người. Đọc bài thơ Tự tình tháng ba của nhà thơ Bình Nguyên Trang, ta bắt gặp một tâm hồn nữ sĩ đầy hoài niệm, da diết tình quê và những trăn trở sâu lắng về cội nguồn qua bức tranh tháng ba vừa ảo ảnh, vừa đượm buồn.

    Mở đầu bài thơ, không gian tháng ba hiện lên qua làn sương khói bàng bạc, gợi nhắc những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn nhân vật trữ tình:

    "Mùa xuân ơi / Người gieo hạt trên cánh đồng kỉ niệm / Tháng ba sương khói như lòng / Tôi thả tình tôi trên một dòng sông / Chiều đồng giao thức màu hoa bèo tím"

    Bằng những hình ảnh dung dị nhưng giàu sức gợi như "dòng sông", "hoa bèo tím" hay "chiều đồng giao", nhà thơ đã thả hồn mình vào không gian bình yên của làng quê. Kí ức ấy không chỉ dừng lại ở cảnh vật mà còn khắc sâu vào hình bóng con người tần tảo, chịu thương chịu khó:

    "Kí ức xanh một vùng bến bãi / Nôn nao nỗi niềm hoa cà hoa cải / Dáng con đò gầy như dáng chị tôi"

    Hình ảnh ẩn dụ "dáng con đò gầy như dáng chị tôi" kết hợp với sắc hoa cà hoa cải gợi lên vẻ đẹp mộc mạc, nhọc nhằn nhưng vô cùng đỗi thân thương của người phụ nữ Việt Nam, làm rưng rưng xúc động lòng người đọc.

    Từ không gian hoài niệm ấy, tâm trạng nhân vật có sự chuyển biến mạnh mẽ, hướng về sự sống và cội nguồn với niềm hy vọng thiết tha:

    "Vàng đi nắng ơi / Cho nỗi buồn tôi rạng ngời hy vọng / Tôi mặc lòng tôi lang thang đầu con sóng / Nghe tiếng chuông nguồn cội nhắc tên mình"

    Dẫu cuộc đời vẫn còn đó những nhọc nhằn, trăn trở như "hoa gạo vẫn nhọc nhằn" hay "tháng năm chưa bao giờ yên ngủ", nhà thơ vẫn chọn cách đối diện bằng tấm lòng bao dung và khát vọng hoàn thiện mình. Khép lại bài thơ là chiêm nghiệm sâu sắc của một người viễn xứ:

    "Tôi đi xa để gần gũi ngàn năm / Nỗi đau đáu của một người viễn xứ / Ngày đang mới trong một chiều đã cũ / Gọi tên mùa trong tiếng lá dần xanh"

    Sự dịch chuyển từ "chiều đã cũ" sang "tiếng lá dần xanh" là biểu hiện của sự hồi sinh, của niềm tin yêu cuộc sống mạnh mẽ dẫu thời gian trôi đi.

    Tự tình tháng ba của Bình Nguyên Trang thành công nhờ thể thơ linh hoạt, nhịp điệu uyển chuyển cùng hệ thống hình ảnh mang đậm hồn quê. Bài thơ không chỉ là khúc ca tự tình của riêng tác giả mà còn đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu sâu nặng với nguồn cội, quê hương.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết bài văn phân tích về một bài thơ nói về cha mẹ mà em yêu thích

    Trong kho tàng thơ ca Việt Nam, đề tài viết về mẹ luôn là nguồn mạch thiết tha, sâu lắng nhất. Nhắc đến những vần thơ chạm đến tận cùng tâm khảm người đọc về đấng sinh thành, không thể không nhắc đến bài thơ “Mẹ” của nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bằng những hình ảnh bình dị mà gợi cảm, bài thơ là bức tượng đài bằng cảm xúc về nỗi vất vả, hy sinh thầm lặng và lòng biết ơn vô hạn của con dành cho mẹ.

    Mở đầu bài thơ, tác giả vẽ nên một khung cảnh nghẹn ngào khi đối diện với sự đổi thay của thời gian và hình bóng gầy gò của mẹ:

    "Lặng rồi cả tiếng con thơ,

    Con ơi con ngủ cho vừa giấc nay.

    Mẹ là gió hát ngàn mây,

     Là trăng buổi sớm, là ngày còn mang."

    Hình ảnh người mẹ hiện lên không chỉ gần gũi, ấm áp qua lời ru à ơi mà còn hòa quyện với thiên nhiên đất trời ("gió hát ngàn mây", "trăng buổi sớm"). Mẹ hóa thân thành tất cả những gì bao dung, hiền hòa nhất để chở che cho giấc ngủ của con. Mẹ gánh trọn nhọc nhằn của cuộc đời để đem lại bình yên cho con trẻ.

    Thế nhưng, đằng sau sự dịu dàng ấy là cả một đời hy sinh thầm lặng, hao gầy vì con cái:

    "Lặng rồi cả tiếng con say,

    Mẹ là chốn để tháng ngày con quên.

    Mẹ là gió hát ngàn mây,

     Mẹ là bông súng, là cây quên mình."

    Điệp khúc "Mẹ là..." được nhà thơ sử dụng khéo léo như một lời khẳng định tột cùng về sự dâng hiến vô điều kiện. Mẹ tự quên đi chính mình ("là bông súng, là cây quên mình"), chắt chiu từng giọt mồ hôi để nuôi con khôn lớn. Tác giả đã tinh tế mượn những hình ảnh mộc mạc của đồng quê để khắc họa phẩm chất chịu thương chịu khó, đức hy sinh cao cả của người mẹ Việt Nam truyền thống.

    Khép lại bài thơ, Đỗ Trung Quân không chỉ gợi lên nỗi xót xa trước tấm lòng người mẹ mà còn thức tỉnh trong lòng mỗi người con ý thức về lòng hiếu thảo. Bài thơ “Mẹ” mãi là khúc ca đẹp đẽ, thiêng liêng về tình mẫu tử, nhắc nhở chúng ta hãy biết trân trọng từng phút giây khi còn mẹ trên đời.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Khúc dân ca (Nguyễn Duy)

    Nguyễn Duy là nhà thơ luôn nặng lòng với cội nguồn, hồn quê và văn hóa dân tộc. Bài thơ "Khúc dân ca" là một bức tranh tâm tình đặc sắc, qua đó tác giả ca ngợi vẻ đẹp trường tồn của những giá trị truyền thống và sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt Nam qua giông bão chiến tranh.

    Mở đầu bài thơ, khúc thứ nhất đưa người đọc về với không gian đồng nội thanh bình rồi bất ngờ gắn kết nó với hiện thực khốc liệt của chiến trường:

    "Con cò bay lả bay la Theo câu quan họ bay ra chiến trường Nghe ai hát giữa núi non Mà hương đồng cứ rập rờn trong mây"

    Hình ảnh cánh cò ca dao quen thuộc đã vượt qua lũy tre làng để đến với chốn lửa đạn. Tiếng hát quan họ vang vọng giữa núi non không chỉ xoa dịu những gian lao, mất mát của người lính mà còn hóa thành thứ "hương đồng" nuôi dưỡng tâm hồn họ. Đến khúc thứ hai, nhịp thơ chậm lại như một lời khẳng định chắc nịch về độ bền vững của văn hóa dân tộc trước thử thách của thời gian:

    "Nghìn năm trên dải đất này Cũ sao được cánh cò bay la đà Cũ sao được sắc mây xa Cũ sao được khúc dân ca quê mình!"

    Sử dụng câu hỏi tu từ kết hợp điệp ngữ "Cũ sao được...", Nguyễn Duy khẳng định những biểu tượng thiêng liêng của quê hương là vĩnh cửu. Chúng không bao giờ phai mờ hay lỗi thời, mà luôn chảy mãi trong huyết quản của dân tộc. Khép lại bài thơ ở khúc thứ ba, nhà thơ đưa ta về với vẻ đẹp tinh khôi, nguyên thủy của thiên nhiên và ý thức tự chủ mạnh mẽ:

    "Cò bay bằng cánh trắng tinh Lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi Mây trôi bằng gió của trời Là ta, ta hát những lời của ta!"

    Thiên nhiên hiện lên với sự tinh khiết, trù phú và khoáng đạt. Điểm tột cùng của bài thơ nằm ở câu kết: "Là ta, ta hát những lời của ta!". Tiếng "ta" vang lên đầy kiêu hãnh, khẳng định văn hóa, dân ca chính là máu thịt, là tiếng lòng tự chủ của Nhân dân ta.

    Bằng thể thơ năm chữ nhịp nhàng, giàu nhạc điệu, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, bài thơ "Khúc dân ca" của Nguyễn Duy đã đánh thức trong lòng người đọc tình yêu sâu sắc đối với cội nguồn. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm gìn giữ và trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Nhớ (Hồng Nguyên)

    Nhà thơ Hồng Nguyên trưởng thành trong khói lửa kháng chiến chống Pháp, và bài thơ "Nhớ" (1948) chính là bức tượng đài bằng ngôn từ khắc họa chân thực, xúc động về người lính Vệ quốc quân thời kỳ đầu. Tác phẩm không chỉ tái hiện vẻ đẹp mộc mạc, hào hùng của những người lính "tứ xứ" mà còn làm ngời sáng tình đồng chí, tình quân dân thắm thiết, keo sơn.

    Mở đầu bài thơ, chân dung người lính hiện lên thật bình dị nhưng mang tư thế hiên ngang, dũng mãnh:

    "Lũ chúng tôi, Bọn người tứ xứ, Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “một hai”... Áo vải chân không, Đi lùng giặc đánh."

    Xuất thân từ những nông dân nghèo khó "chưa biết chữ", họ quy tụ lại dưới ngọn cờ kháng chiến với hai bàn tay trắng "áo vải chân không". Thế nhưng, vượt lên trên mọi thiếu thốn vũ khí và vật chất, họ mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần lạc quan "lòng vẫn cười vui kháng chiến" và ý chí chủ động "đi lùng giặc đánh". Gác lại sau lưng tình riêng êm đềm với "mái lều gianh", người vợ trẻ "mòn chân bên cối gạo canh khuya", những người lính hướng trọn trái tim về lý tưởng lớn lao: "Tớ còn chờ Độc lập". Câu nói cửa miệng ấy thể hiện bản lĩnh kiên cường và sự hy sinh thầm lặng vì nghĩa lớn của dân tộc.

    Không dừng lại ở đó, đoạn thơ sau tiếp tục làm sâu sắc thêm tình đồng đội và tình quân dân cá nước trên những nẻo đường hành quân gian khó:

    "Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng, Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa... Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa. Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!"

    Trên chặng đường lưu động qua muôn vàn gian khổ, tình đồng chí được tôi luyện qua những cái ôm sưởi ấm trong đêm mưa, qua những buổi học chữ bên bếp lửa hồng. Họ được che chở trong vòng tay yêu thương của nhân dân qua hình ảnh "mẹ hiền bắt rận", qua mái rạ bình yên và câu nói ân tình ngày tiễn biệt: "Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!". Đó là lời hẹn ước giản dị mà thiêng liêng, kết tinh tình cảm sâu nặng giữa quân và dân ta.

    Bài thơ "Nhớ" của Hồng Nguyên thành công rực rỡ nhờ thể thơ tự do linh hoạt, ngôn ngữ mộc mạc đậm chất lính và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự với trữ tình. Qua đó, tác phẩm mãi là khúc tráng ca đẹp về một thời kỳ kháng chiến gian khổ nhưng oanh liệt, hào hùng của dân tộc Việt Nam.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Đợi mẹ (Vũ Quần Phương)

    Thơ ca viết về mẹ luôn có sức lay động sâu xa bởi đó là nguồn mạch tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Bài thơ "Đợi mẹ" của nhà thơ Vũ Quần Phương là một tác phẩm tiêu biểu như thế. Bằng ngòi bút tinh tế, giàu hình ảnh và chất họa, bài thơ đã khắc họa thành công hình ảnh một em bé ngây thơ, kiên nhẫn ngóng mẹ giữa không gian buốt giá, qua đó ngợi ca sự vất vả, hy sinh thầm lặng và tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ.

    Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc về không gian chiều tối tĩnh lặng, nơi đứa trẻ đang mòn mỏi chờ mong:

    Em bé ngồi nhìn ra ruộng lúa Trời tối trên đầu hè. Nửa vầng trăng non Em bé nhìn vầng trăng, nhưng chưa nhìn thấy mẹ Mẹ lẫn trên cánh đồng. Đồng lúa lẫn vào đêm

    Tư thế "ngồi nhìn ra ruộng lúa" của em bé gợi lên vẻ cô đơn đến nao lòng. Trong không gian nhập nhoạng khi "trời tối trên đầu hè", sự hòa lẫn giữa "mẹ" và "cánh đồng", "đồng lúa" với "đêm" tạo nên một bức tranh vô định. Người mẹ biến mất trong bóng tối bao la của đồng sâu, để lại đứa con bé bỏng đối diện với khoảng không tịch mịch.

    Sự chờ đợi ấy kéo dài vào sâu trong căn nhà tranh hiu hắt, nơi nhịp thời gian trôi chậm đục qua từng chi tiết sinh hoạt:

    Ngọn lửa bếp chưa nhen. Căn nhà tranh trống trải Đom đóm bay ngoài ao. Đom đóm đã vào nhà Em bé nhìn đóm bay, chờ tiếng bàn chân mẹ Bàn chân mẹ lội bùn ì oạp phía đồng xa

    Căn nhà "trống trải" vì thiếu vắng ngọn lửa ấm áp của mẹ. Hình ảnh chú đom đóm bay từ ngoài ao vào nhà như chấm phá thêm nét đượm buồn cho không gian quạnh quẽ. Thế nhưng, tâm trí em bé không bận tâm đến xung quanh; mọi giác quan của em chỉ hướng về "tiếng bàn chân mẹ". Từ láy "ì oạp" vang lên giữa đêm khuya là một thứ âm thanh giàu sức gợi, không chỉ tả thực bước chân lội bùn nặng nhọc mà còn là tiếng vọng của sự nhọc nhằn, vất vả, tần tảo sớm hôm của người mẹ nghèo.

    Khép lại bài thơ là khoảnh khắc đoàn tụ đầy xúc động và ấm áp tình mẫu tử:

    Trời về khuya lung linh trắng vườn hoa mận trắng Mẹ đã bế vào nhà nỗi đợi vẫn nằm mơ

    Đêm đã về khuya, không gian bỗng bừng sáng lung linh sắc trắng tinh khôi của hoa mận, xua tan đi vẻ u tối ban đầu. Câu thơ cuối mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: "Mẹ đã bế vào nhà nỗi đợi vẫn nằm mơ". Nỗi nhớ mong, sự chờ đợi mòn mỏi của đứa trẻ lúc này đã hóa thành hình khối cụ thể, được người mẹ ôm trọn vào lòng. Vòng tay ấm áp của mẹ không chỉ ôm lấy cơ thể bé bỏng mà còn chở che cho cả những giấc mơ thơ trẻ.

    "Đợi mẹ" là một bài thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc. Bằng thể thơ linh hoạt, ngôn ngữ giản dị cùng nghệ thuật tương phản, biểu tượng tinh tế, tác phẩm đã chạm đến góc mềm yếu nhất trong tâm hồn mỗi người đọc, nhắc nhở chúng ta luôn trân trọng công ơn sinh thành, dưỡng dục của mẹ.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Lời người liệt sĩ dặn con (Bế Kiến Quốc)

    Chiến tranh qua đi nhưng những mất mát, hy sinh vẫn còn đọng lại trong từng trang thơ kháng chiến. Viết về đề tài thiêng liêng ấy, bài thơ "Lời người liệt sĩ dặn con" của Bế Kiến Quốc là một khúc tráng ca đẹp đẽ, xúc động về tình cha con và lý tưởng cao cả của người lính ngã xuống vì Tổ quốc.

    Ngay từ những câu thơ đầu, hình ảnh người cha hiện lên đầy bi tráng nhưng vô cùng kiêu hãnh. Cha ngã xuống trên chiến trường, nhưng cái chết ấy không hề bi lụy mà hóa thành sự hồi sinh mãnh liệt cho thế hệ sau:

    "Khi ngã xuống, vẫy bàn tay dũng cảm, Cha đã đổi về ánh sáng ấy cho con."

    Sự hy sinh của cha đã đổi lấy "ánh sáng" độc lập, tự do và "bầu trời" trong sạch cho con thơ. Cha không mất đi, mà sự sống ấy nay đã hóa thân vào thiên nhiên, đất nước: "Cha vẫn sống trong lòng mọi người / Cha vẫn sống trong ánh sáng, bầu trời". Đó là sự bất tử của lòng yêu nước và tình phụ tử thiêng liêng.

    Từ sự hy sinh lớn lao ấy, người cha gửi gắm những lời dặn dò đầy thiết tha và kỳ vọng qua điệp khúc "Lớn lên nhé, con ơi". Cha mong con lớn lên như "cái cây tắm đầy ánh sáng", như "cánh chim giữa bầu trời trong sạch" – biểu tượng của sự sống hiên ngang, tự do và thanh cao. Cha dặn con hãy sống có ước mơ, có lòng dũng cảm, biết "làm cây mọc thẳng", "làm cánh chim bay cao". Đến khổ thơ cuối, giọng thơ chuyển thành tiếng gọi mệnh lệnh từ trái tim:

    "Bầu trời và ánh sáng, Con phải biết hưởng cho xứng đáng Phải làm chim bay cao, phải làm cây mọc thẳng Phải lo âu giữ gìn."

    Hai chữ "lo âu" chứa đựng cả một nỗi niềm trăn trở sâu sắc, nhắc nhở thế hệ mai sau không được quên ơn quá khứ, phải có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của cha ông.

    Khép lại bài thơ, Bế Kiến Quốc đã thành công khi sử dụng thể thơ tự do phóng khoáng, nhịp thơ linh hoạt cùng hệ thống hình ảnh biểu tượng giàu sức gợi. Bài thơ như một lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải sống sao cho xứng đáng với máu xương của cha anh, biết trân trọng nền hòa bình và tiếp nối ngọn lửa truyền thống cách mạng.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích Mùa cỏ nở hoa (Hồng Vũ)

    Có những vần thơ đọc lên ta ngỡ như mình đang lạc bước vào một khu vườn cổ tích, nơi có nắng vàng rực rỡ, có những giọt sương mai long lanh và có cả hơi ấm của một cõi lòng bao dung. Bài thơ “Mùa cỏ nở hoa” của Hồng Vũ chính là một khoảng trời êm dịu như thế—một khúc ca xanh dạt dào hương sắc của tình mẫu tử thiêng liêng.

    Mở đầu bài thơ, tác giả đã vẽ ra một bức tranh không gian thật nên thơ:

    “Con yêu ơi! Nếu mẹ là cánh đồng Con là cỏ nở hoa trong lòng mẹ”

    Cách ví von mẹ là cánh đồng, con là cỏ hoa không chỉ gần gũi mà còn chứa đựng một sức gợi cảm kỳ lạ. Cánh đồng ấy không cần phải “đủ rộng dài như sông bể”, nhưng lại là chiếc nôi vũ trụ thu nhỏ tràn ngập nắng ấm buổi ban ngày, lung linh muôn ánh sao trời khi đêm xuống, và đọng lại những giọt sương trong ngần của tinh khôi. Trong không gian ấy, đứa con hiện hình thật bé nhỏ, đáng yêu, được bao bọc trọn vẹn trong hơi ấm của tình mẫu tử.

    Tình yêu của mẹ dành cho con không mang những khuôn sáo nặng nề, mà là một lời dặn dò đầy nâng niu, trân trọng:

    “Cỏ yêu nhé cứ hồn nhiên mà lớn Phủ xanh non lên đất mẹ hiền hòa”

    Mẹ không ép cỏ phải thành những tầng cây cao vút, mẹ chỉ mong con giữ trọn sự hồn nhiên, vô tư để mang lại sức sống, sự tươi mới cho đời. Đằng sau sự bình dị ấy là cả một sự hi sinh thầm lặng, bền bỉ. Giống như “những mạch ngầm trong đất” ngày đêm “trào dâng”, dòng nước mát lành cứ lặng lẽ chảy trôi để nuôi dưỡng mầm cỏ xanh mướt.

    Và rồi, sự chăm chút ấy cũng đến ngày hái quả. Mầm cỏ ngày nào nay đã “nở thắm muôn hoa”, cất lên khúc hát giao mùa rộn rã. Cỏ tỏa hương thơm ngát, đem lại niềm vui ngập tràn cho cánh đồng của mẹ. Khép lại bài thơ là một định nghĩa về hạnh phúc giản dị đến nghẹn ngào:

    “Niềm hạnh phúc giản đơn và bé nhỏ Được bên con mãi mãi đến vô cùng.”

    Đọc “Mùa cỏ nở hoa”, ta thấy lòng mình mềm lại.

    Bài thơ như một giọt sương mai tưới mát tâm hồn, nhắc nhở ta về những yêu thương thầm lặng mà vô điều kiện vẫn đang hiện hữu từng ngày trong cuộc đời này.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích Tuổi thơ (Trương Nam Hương)

    Bài thơ "Tuổi thơ" của Trương Nam Hương mở ra một không gian nghệ thuật đặc biệt: không gian nằm ở ranh giới giữa hiện thực khốc liệt và giấc ngủ chập chờn của tuổi thơ. Đọc bài thơ, người ta không chỉ bắt gặp nỗi hoài niệm cá nhân mà còn chạm đến một phần ký ức chung của cả một thế hệ lớn lên trong khói lửa chiến tranh.

    Mở đầu mỗi khổ thơ đều là điệp khúc "Trong giấc ngủ của con". Giấc ngủ đáng lẽ phải là chốn bình yên, ngọt ngào nhất của trẻ nhỏ, nhưng ở đây, nó lại mang nặng những dư âm của thời đại. Ở khổ thơ thứ nhất, giấc ngủ ấy được nhuộm bằng sắc "đỏ ối trời hoa gạo" và đánh thức bởi những ký ức đậm đặc chất liệu làng quê:

    "mùi rơm rạ huây hoai / Mùi bùn non ngây ngái".

    Tuổi thơ của nhân vật trữ tình gắn liền với bãi bồi sông Hồng, với sự hồn nhiên đến mức ngây ngô: tin vào trò chuồn ngô cắn rốn, tưởng sông Hồng hẹp hơn, hay khoảnh khắc đối mặt với tử thần khi "thân chuối lạc đã vớt con lúc đuối". Ngay từ những câu thơ đầu, bức tranh tuổi thơ đã hiện lên vừa mộc mạc, nên thơ, vừa thấp thoáng hiểm nguy.

    Nhưng sự bình yên ấy nhanh chóng bị xé toạc ở khổ thơ thứ hai. Sắc đỏ của hoa gạo chuyển hóa thành "đỏ rát trời đạn lửa" – một hình ảnh bạo liệt mang tính biểu tượng cho sự tàn phá của chiến tranh. Giữa vùng trời đạn lửa ấy, hình ảnh mẹ và bà hiện lên thật nhọc nhằn, đau xót qua bút pháp hiện thực sắc sảo:

    "Tất tả gánh gồng xuôi ngược / Cháu con một đầu, nồi chảo một đầu".

    Gánh nặng gia đình, gánh nặng mưu sinh oằn trên đôi vai gầy guộc của những người phụ nữ. Điểm ám ảnh nhất trong đoạn thơ chính là sự đối lập đắt giá: đứa trẻ vô tư "ngồi hát giữa chập chèng xoong chậu" hoàn toàn không hay biết rằng đằng sau tiếng hát ấy là những giọt nước mắt nuốt ngược vào trong của mẹ và bà. Người lớn khóc vì bất lực, khóc với niềm hy vọng mong manh đến xé lòng:

    "Tưởng khóc thế là chiến tranh mau hết".

    Thế nhưng, chiến tranh là một cỗ máy vô tri, lạnh lùng, "dường như không cần biết" đến những giọt nước mắt đau thương ấy. Sự bất lực của con người trước quy luật khắc nghiệt của thời đại được nhà thơ khắc họa bằng một giọng thơ nghẹn ngào, day dứt.

    Đến khổ cuối, thế giới cổ tích quen thuộc "Không có bà Tiên, cô Tấm" hoàn toàn vắng bóng. Thay vào đó là âm thanh chói gắt của "u u những hồi còi báo động" và hình ảnh chiếc chạc xoan tự chế "muốn được hóa nỏ thần". Trẻ thơ buộc phải mang tâm thế của người lính cứu quốc trong giấc mơ. Dù vậy, chính "cái khao khát thơ ngây" ấy lại là nguồn sống, là điểm tựa tinh thần để người lớn bấu víu vào mà vượt qua nghịch cảnh.

    Bài thơ khép lại bằng một chân lý lớn lao mang tầm vóc sử thi:

     "Đất nước trường tồn từ chắt chiu hy vọng / Trong mỗi căn hầm / Có tiếng dế tuổi thơ con!".

    Tiếng dế kêu rả rí trong căn hầm tối không chỉ là âm thanh của thiên nhiên, mà là biểu tượng của sự sống mãnh liệt, của hòa bình và sự trường tồn bất diệt của dân tộc Việt Nam.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích bài thơ Tổ quốc gọi tên mình (Nguyễn Phan Quế Mai)

    Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai luôn dành cho quê hương đất nước một tình yêu tha thiết, sâu lắng. Thi phẩm "Tổ quốc gọi tên mình" là một tiếng chuông thức tỉnh lòng yêu nước, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đoạn thơ mở đầu bằng âm hưởng hào hùng, khắc họa bức tranh Tổ quốc trong bão giông và tinh thần kiên cường của dân tộc.

    Ngay từ những câu thơ đầu, không gian Tổ quốc hiện lên thật thiêng liêng gắn liền với vùng biển đảo tiền tiêu:

    "Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình / Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá / Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả / Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây".

    Tiếng gọi ấy không phát ra từ hư vô mà mang sức nặng của sóng gió Trường Sa, Hoàng Sa, nơi đầu sóng ngọn gió đang chịu đựng muôn vàn hiểm nguy. Qua đó, nhà thơ đánh thức tâm thức hướng về biển đảo của mỗi người con đất Việt.

    Qua chiều dài lịch sử, hình tượng Tổ quốc càng trở nên bất tử qua sự hy sinh xương máu của các thế hệ:

    "Tổ quốc của tôi! Tổ quốc của tôi! / Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ / Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã / Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông".

    Điệp ngữ "Tổ quốc của tôi" kết hợp cùng hình ảnh ẩn dụ "ngọn đuốc Hòa bình" và dòng máu nhuộm mặn sóng nước đã ngợi ca bề dày lịch sử dựng nước, giữ nước hào hùng và sự hy sinh vô bờ bến của cha ông.

    Đứng trước hiện thực đầy thử thách khi "kẻ lạ mặt rập rình" ngang nhiên chia cắt đất nước, nỗi đau xé lòng được bộc lộ qua câu thơ: "Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau". Thế nhưng, vượt lên trên nỗi đau ấy là sức mạnh đoàn kết của "chín mươi triệu môi người", của khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc. Tất cả cùng đồng lòng che chở cho Tổ quốc, giữ lấy bình yên cho thế hệ mai sau và khép lại bằng lời tự vấn đầy trách nhiệm: "Tôi lắng nghe / Tổ quốc / Gọi tên mình!".

    Bài thơ "Tổ quốc gọi tên mình" của Nguyễn Phan Quế Mai là khúc tráng ca đẹp đẽ về tình yêu nước. Qua nghệ thuật biểu cảm giàu hình ảnh và nhạc điệu, tác phẩm đã bồi đắp trong lòng người đọc ý thức trách nhiệm thiêng liêng đối với chủ quyền non sông, đất nước.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...