Quảng cáo
  • Viết đoạn văn (khoảng 10-12 câu) phân tích đoạn thơ: "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày...Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" của bài thơ Đồng chí (Chính Hữu)

    Đoạn thơ trong bài "Đồng chí" của Chính Hữu đã khắc họa xúc động tình cảm gắn bó của những người lính xuất thân từ nông dân. Trước hết, họ tìm thấy sự đồng điệu trong hoàn cảnh: gác lại tình riêng, rời xa "ruộng nương", "gian nhà" để dấn thân vào cuộc kháng chiến. Từ "mặc kệ" cho thấy quyết tâm sắt đá nhưng hình ảnh "giếng nước gốc đa nhớ" lại bộc lộ tâm hồn đầy tình cảm, luôn hướng về quê hương. Không chỉ thấu hiểu nỗi lòng, họ còn cùng nhau trải qua những cơn sốt rét rừng "run người" và sự thiếu thốn vật chất từ chiếc áo rách đến chân không giày. Vượt lên tất cả là nụ cười lạc quan và cái nắm tay siết chặt. Cái nắm tay ấy đã truyền hơi ấm, biến tình thương thành sức mạnh vô hình giúp họ vượt qua mọi khắc nghiệt của chiến trường.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) ghi lại cảm xúc của em về đoạn trích thơ "Con ong làm mât, yêu hoa ... một đốm lửa tàn mà thôi" trong Tiếng ru (Trích Gió lộng) của Tố Hữu

    Đoạn trích trong bài thơ "Tiếng ru" của Tố Hữu đã để lại trong em những rung động sâu sắc về triết lý nhân sinh. Bằng cách sử dụng những hình ảnh tự nhiên như con ong yêu hoa, con cá yêu nước, tác giả khẳng định sự gắn bó giữa cá nhân và môi trường là lẽ tất yếu. Đặc biệt, các hình ảnh đối lập như "một ngôi sao" không thể "sáng đêm", "một thân lúa" không làm nên "mùa vàng" đã làm nổi bật sức mạnh của tập thể. Câu hỏi tu từ "Một người - đâu phải nhân gian?" như một lời cảnh tỉnh về lối sống cô lập. Nếu tách rời cộng đồng, con người chỉ như "đốm lửa tàn" lụi tắt và vô nghĩa. Qua đó, em hiểu rằng sống là để yêu thương và gắn kết với mọi người xung quanh.


    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nhận xét tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Xuôi đò của Nguyễn Bính

    Trong bài thơ Xuôi đò, nhân vật trữ tình hiện lên với tâm trạng bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời. Hình ảnh con đò trôi xuôi không chỉ là tả thực mà còn là ẩn dụ cho một cái tôi đang trôi dạt, không tìm thấy bến đỗ bình yên cho tâm hồn. Nỗi buồn ấy thấm đẫm vào cảnh vật, tạo nên một không gian tĩnh lặng đến tê tái. Đó là nỗi sầu của người lữ khách mang nặng mặc cảm chia ly, nhìn đâu cũng thấy sự dở dang và xa cách, thể hiện đúng điệu hồn "chân quê" đa sầu, đa cảm của Nguyễn Bính.


    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hai khổ thơ đầu trong văn bản Tiếng ru (Tố Hữu)

    Hai khổ thơ đầu của "Tiếng ru" là bài học sâu sắc về lẽ sống gắn kết. Tố Hữu mượn quy luật tự nhiên (ong yêu hoa, cá yêu nước, chim yêu trời) để khẳng định một chân lý: sự tồn tại của cá nhân luôn gắn liền với môi trường và cộng đồng. Đặc biệt, phép đối lập giữa "một" và "nhiều" (ngôi sao - đêm, thân lúa - mùa vàng) nhấn mạnh sự nhỏ bé, cô độc của con người khi tách rời tập thể. Hình ảnh "đốm lửa tàn" là lời cảnh báo về lối sống vị kỷ, héo mòn. Qua đó, nhà thơ nhắn nhủ mỗi chúng ta phải biết yêu thương "đồng chí", "anh em" để tạo nên sức mạnh nhân gian rộng lớn, giúp cuộc đời mỗi người trở nên rực rỡ và ý nghĩa hơn.


    Xem thêm >>
  • Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về nhân vật tôi trong đoạn trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước (Nguyễn Thị Bình)

    Nhân vật "tôi" trong đoạn trích hiện lên là một trí thức cách mạng kiên trung với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Giữa bối cảnh chiến tranh khốc liệt, bà luôn đặt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó lên trên hết, dù đó là những công việc "cao hơn sức mình". Sự hy sinh của bà không chỉ nằm ở gian khổ nơi tuyến đầu, mà đau đớn hơn cả là việc phải xa rời thiên chức làm mẹ, gửi con đi sơ tán để dấn thân vào cuộc chiến trường kỳ. Câu nói: "Chiến tranh, biết bao nhiêu người phải hy sinh, còn có lựa chọn nào khác!" không chỉ là lời tự an ủi mà còn là lời tuyên ngôn của một thế hệ sẵn sàng gác lại tình riêng vì đại nghĩa. Nhân vật "tôi" chính là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam anh hùng, vừa mạnh mẽ trong hành động, vừa cao cả trong tư tưởng.


    Xem thêm >>
  • Hãy viết một đoạn văn ngắn ghi lại cảm xúc của em về đoạn thơ "Em nghe thầy đọc bao ngày ... Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời" của bài thơ Nghe thầy đọc thơ (Trần Đăng Khoa)

    Đoạn thơ mở ra một thế giới nghệ thuật kỳ diệu qua tiếng đọc thơ của thầy giáo. Bằng tâm hồn nhạy cảm, Trần Đăng Khoa đã cảm nhận âm thanh không chỉ bằng thính giác mà còn bằng thị giác qua hình ảnh "đỏ nắng, xanh cây". Tiếng thơ của thầy như có phép màu, làm rực rỡ thêm sắc màu của cảnh vật quanh nhà. Điệp từ "nghe" lặp lại liên tục cho thấy sự tập trung cao độ và lòng ngưỡng mộ của người học trò. Tiếng thơ ấy còn mang theo hơi thở của hồn quê với hình ảnh "mái chèo", "mặt sông", tạo nên một không gian vừa thực vừa ảo. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác cực kỳ tinh tế, khiến những vần thơ vốn trừu tượng trở nên sống động, hiện hữu ngay trước mắt. Qua đó, ta thấy được tình yêu thiên nhiên và lòng biết ơn sâu sắc mà nhà thơ dành cho người thầy – người đã thắp sáng vẻ đẹp cuộc đời qua từng trang sách.


    Xem thêm >>
  • Viết một đoạn văn (khoảng 200) chữ trình bày cảm nhận của em về bài thơ “Tình mẹ” của Lại Văn Hạ

    Bài thơ "Tình mẹ" của Lại Văn Hạ là một nốt nhạc êm dịu về tình mẫu tử thiêng liêng. Bằng thể thơ lục bát đậm đà phong vị ca dao, tác giả đã tái hiện không gian tuổi thơ thanh bình bên chiếc nôi và tiếng "à ơi" ngọt ngào của mẹ. Lời ru ấy không chỉ đưa con vào giấc ngủ ngon bằng ngọn gió từ bàn tay hao gầy, mà còn chứa đựng cả một đời tần tảo: "Giọt mồ hôi mặn chắt ra lúa vàng". Từng câu thơ thấm đẫm lòng biết ơn trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Tiếng ru dịu hiền của người mẹ chốn quê nghèo chính là nguồn sữa tinh thần vô giá, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con. Bài thơ chạm đến góc sâu thẳm nhất trong trái tim mỗi người, nhắc nhở chúng ta biết trân trọng và biết ơn tình mẫu tử thiêng liêng. 

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích đặc điểm nghệ thuật của bài thơ Đêm mưa (Tô Hoàn)

    Bài thơ Đêm mưa của Tô Hoàn gieo vào lòng người đọc niềm xúc động sâu sắc nhờ thể thơ lục bát truyền thống và nghệ thuật xây dựng hình ảnh đối lập độc đáo. Với nhịp điệu trầm buồn, ngôn từ giản dị, tác giả đã khắc họa chân thực cảnh tượng thiên nhiên khắc nghiệt qua cụm từ "sợi thẳng, sợi xiên" và "đêm trắng trời". Những hạt mưa ấy như vận vào cuộc đời gian truân của người mẹ nơi gian nhà dột nát. Đặc biệt, nghệ thuật tương phản giữa cái chí lớn "đánh giặc suốt đời" của người con chiến sĩ với sự bất lực đầy xót xa "vẫn không che được một nơi mẹ nằm" đã đẩy kịch tính cảm xúc lên cao trào. Phép đối ấy không chỉ làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của mẹ mà còn bộc lộ nỗi đau đáu, lòng hiếu thảo và sự tự trách đầy nhân văn của người con.


    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật trữ tình trong văn bản Ca dao nhớ mẹ (Đặng Toán)

    Nhân vật trữ tình "Tôi" trong Ca dao nhớ mẹ của Đặng Toán chạm đến tim người đọc nhờ cấu trúc độc thoại hành động đầy ám ảnh. Qua điệp khúc "Tôi ngồi...", người đọc không thấy một cái tôi tĩnh lặng, mà là một tâm thế chủ động đối diện với nỗi đau. Chuỗi động từ tăng tiến từ "ngóng", "nhớ" về miền thơ ấu thanh bình với dáng chợ trưa, chiếc quạt mo của mẹ, bỗng đổ sụp thành "khóc mồ côi". Biến cố mất mẹ đột ngột như trận mưa bão "bời bời" gạt đi ánh "nắng sớm" cuộc đời, đẩy nhân vật vào thế cô độc, hóa thân thành "cái cò run rẩy bờ khuya". Để rồi cuối cùng, hành động "nhấp đêm dài" đậm chất suy tư cho thấy nhân vật đang cam chịu nuốt ngược giọt đắng thời gian, biến nỗi đau thành một phần máu thịt qua cái "cay cay mắt mình". Đó là một cái tôi thủy chung, hiếu nghĩa và đầy bản lĩnh trước giông bão cuộc đời.


    Xem thêm >>
  • Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về một hoặc một số đặc điểm nghệ thuật trong bài thơ Khi mùa xuân đến của Hoàng Cầm.

    Trong bài thơ Khi mùa xuân đến, Hoàng Cầm đã phô diễn một tư duy nghệ thuật tài hoa qua cấu trúc đối xứng và nhịp điệu đầy mê hoặc. Ngay mở đầu, hai thi ảnh "mắt em" và "mắt anh" được đặt trong thế song hành, tạo nên một trường đối thoại tâm tưởng vừa thống nhất vừa tương phản. Sự đối xứng ấy tiếp tục mở rộng ra không gian với hai vế "Bên này sông đỏ phù sa" và "Bên kia sông trắng nhập nhoà khói sương". Thủ pháp này không chỉ định hình hai cõi thực - ảo, định tính hai trạng thái đón nhận mùa xuân, mà còn kiến tạo một nhịp điệu trầm bổng, lúc dạt dào như biển sóng, lúc bảng lảng như khói sương. Nhịp thơ uyển chuyển như một dòng chảy vô hình, dẫn dắt người đọc len lỏi qua những cung bậc thổn thức của tình yêu. Chính tổ chức nghệ thuật cân xứng, nhịp nhàng này đã biến những rung cảm trừu tượng thành một thực thể thẩm mỹ có hình khối, có hồn cốt, để lại dư ba sâu lắng trong lòng độc giả.


    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...