Quảng cáo
  • Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích: "Mười ngày đã tới ải Đồng....Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay" (Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu)

    Đoạn trích đã khắc họa một cách xúc động lòng thủy chung, nghĩa tình trọn vẹn của Kiều Nguyệt Nga đối với Lục Vân Tiên. Giữa không gian biên ải mênh mông, đối mặt với tương lai mịt mờ, điều khiến nàng đau đáu nhất không phải là sự an nguy của bản thân mà là "nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn". Nỗi xót xa cho mối duyên dở dang đã đẩy tâm trạng nàng vào bi kịch. Lời thề nguyền độc thoại giữa đêm khuya: "Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng" là minh chứng hùng hồn nhất cho một trái tim son sắt. Cho dù Vân Tiên được tin đã khuất, đối với Nguyệt Nga, lời ước hẹn năm xưa vẫn nặng tựa ngàn cân. Việc nàng mang theo bức tượng người thương bên mình khi gieo mình xuống dòng nước xiết chính là hành động vĩnh cửu hóa tình yêu. Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một tượng đài về lòng thủy chung, nơi người phụ nữ dám đem cả mạng sống để bảo vệ trọn vẹn lời thề nghĩa nặng tình sâu.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về nhân vật người tiều phu trong đoạn trích từ tác phẩm Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na - Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)

    Nhân vật người tiều phu trong đoạn trích là biểu tượng tuyệt đẹp cho nhân cách cao khiết của một bậc hiền triết lánh đời. Sống nơi núi Na quạnh vắng, "bụi trần không bén tới", ông tự chọn cho mình một lối sống hòa hợp tuyệt đối với tự nhiên. Niềm vui của ông không nằm ở tiền tài, danh vọng mà ở sự tự do: gánh củi đổi lấy cá rượu, bầu bạn với "hươu nai, tuyết nguyệt". Tiếng hát "Ngựa xe võng lọng mặc ai" cùng hành động "phất áo đi thẳng" đã kết tinh thái độ ngạo nghễ, xem nhẹ vinh hoa của một tâm hồn tự tại. Qua lời đối đáp sắc sảo với Trương Công, tiều phu núi Na không chỉ khước từ quyền lực vương triều mà còn khẳng định một triết lý sống kiên định: giữ gìn thiên tính trong sạch giữa một xã hội nhiễu nhương. Bằng bút pháp lãng mạn, Nguyễn Dữ đã khắc họa một hình tượng ẩn sĩ bất tử, để lại bài học sâu sắc về giá trị của sự tự do và nhân phẩm con người.

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo
  • Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của em về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến từ nội dung đoạn trích: "Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai .... Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu"

    Qua những câu thơ đầy ai oán của Chinh phụ ngâm, ta xót xa nhận ra số phận đầy bi kịch, mỏng manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Khát vọng hạnh phúc lứa đôi bình dị buổi “cá nước sum vầy” của người chinh phụ bỗng chốc vỡ tan, đẩy nàng vào cảnh ngộ “đôi ngả nước mây cách vời”. Bi kịch của nàng cũng chính là nỗi đau chung của những người phụ nữ đương thời: họ là nạn nhân trực tiếp của các cuộc chiến tranh phi nghĩa do giai cấp thống trị gây ra. Bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến khắc nghiệt, họ hoàn toàn bị động trước số phận, phải gánh chịu nỗi cô đơn, tủi nhục vô bờ khi “chàng ngoài chân mây” còn bản thân thì âm thầm héo úa nơi khuê phòng trống trải. Dù mang vẻ đẹp thủy chung, sắt son nhưng số kiếp họ lại như cánh bèo trôi, không thể tự quyết định vận mệnh chính mình. Thấu hiểu nỗi sầu muộn của người chinh phụ, ta càng thêm trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc của người phụ nữ trong cuộc sống hôm nay.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh chàng Tú Uyên được gợi ra trong đoạn thơ sau: "Triều Lê đương hội thái hòa...Khắp trong bể thánh, đủ ngoài rừng tao"(Trích Bích câu kì ngộ)

    Đoạn trích trong truyện thơ “Bích Câu kỳ ngộ” đã phác họa nên một hình ảnh chàng Tú Uyên không chỉ hào hoa, phong nhã mà còn mang cốt cách cao đẹp của một bậc văn nhân. Trước hết, Tú Uyên xuất hiện là một "Trần công tử" có xuất thân tốt đẹp, may mắn thừa hưởng phúc đức từ cha mẹ ("nhờ ấm xuân huyên"). Bản thân chàng là người có tài mạo song toàn, thông minh bẩm sinh, lại vô cùng chăm chỉ, miệt mài nơi "cửa Trình" đèn sách từ thuở ấu thơ. Không chỉ dừng lại ở tài năng văn chương, Tú Uyên còn hiện lên với một tâm hồn nghệ sĩ, yêu chuộng và hòa mình vào thiên nhiên "hữu tình". Nơi ở của chàng — một "lầu thơ" đơn sơ với vách lau, rèm trúc nhưng lại tràn ngập tiếng suối đàn, chim ca, gió trăng — chính là minh chứng cho một lối sống thanh tao, không màng danh lợi tầm thường. Thay vì chạy theo tiền tài của cải, chàng tự làm giàu cho tâm hồn mình bằng "kho vàng cúc", "tiền sen" và niềm vui bên những người bạn đồng điệu cùng chí hướng. Qua những vần thơ lục bát uyển chuyển, hình ảnh Tú Uyên hiện lên thật đẹp đẽ, đại diện cho lý tưởng sống cao khiết, vừa say mê học hỏi trong "bể thánh, rừng tao" lại vừa biết tận hưởng cái thú vui tinh thần tự tại giữa cuộc đời.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn phân tích đặc điểm nhân vật Ngọc Hoa trong đoạn trích “Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa”:"Vua truyền nàng Ngọc đến đây...Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!" (Trích Phạm Tài - Ngọc Hoa)

    Không chỉ gây ấn tượng bởi lòng thủy chung son sắt, Ngọc Hoa còn tỏa sáng bởi bản lĩnh làm chủ số phận của mình. Đoạn trích “ Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa” đã thể hiện rõ nét tinh thần ấy. Trước sự ép buộc của bạo chúa, nàng không cam chịu khuất phục mà kiên quyết bảo vệ tình yêu và phẩm giá. Mỗi lời nói của nàng đều cho thấy ý thức sâu sắc về giá trị bản thân và quyền được sống theo đạo lí. Chính trong nghịch cảnh, vẻ đẹp tâm hồn của Ngọc Hoa càng hiện lên rực rỡ với sự kết hợp hài hòa giữa dịu dàng và kiên cường. Qua nhân vật này, tác giả dân gian không chỉ ngợi ca đức hạnh của người phụ nữ mà còn khẳng định sức mạnh của nhân phẩm trước cường quyền. Bởi vậy, Ngọc Hoa đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho lòng chung thủy, khí phách và khát vọng tự do của con người.

    Xem thêm >>
  • Viết đoạn văn nghị luận phân tích đặc điểm nhân vật người ông trong truyện ngắn “Ông nội” của Đào Mạnh Long

    Nhân vật người ông trong truyện ngắn của Đào Mạnh Long trước hết hiện lên là một thầy lang đức độ, mang trái tim nhân hậu bao dung. Cả ngày, ông luôn cặm cụi, tỉ mẩn nâng niu từng nhành lá thuốc, không quản ngại lặn lội nơi núi rừng xa xôi để tìm kiếm vị thuốc cứu người. Giữa cuộc sống mưu sinh, hình ảnh khoảnh sân nhỏ nườm nượp người đến khám nhưng ông “chẳng bao giờ lấy tiền của bất cứ ai” đã sáng bừng lên vẻ đẹp của y đức cao cả. Triết lý sống giản dị: “Giúp đỡ người khác là dành phúc cho con cháu!” không chỉ là bài học giáo dục sâu sắc đối với đứa cháu nhỏ, mà còn thể hiện một nhân sinh quan cao đẹp. Ông coi việc cứu người là duyên, là nghĩa sống chứ không mưu cầu danh lợi. Qua nét vẽ chân thực của tác giả, người ông trở thành biểu tượng thiêng liêng cho lòng nhân ái, một tấm gương sáng về lối sống vị tha, tích đức cho đời.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn nghị luận phân tích đặc điểm của nhân vật thầy Ha-men trong đoạn trích:"Chốc chốc, ngước mắt khỏi trang giấy....đi đi thôi!" (Buổi học cuối cùng)

    Trong đoạn trích cuối cùng của tác phẩm "Buổi học cuối cùng", An-phông-sơ Đô-đê đã khắc họa thành công hình tượng thầy Ha-men như một biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước và tình yêu tiếng mẹ đẻ. Qua dòng hồi tưởng và cái nhìn đầy trân trọng của cậu học trò Phơ-răng, đặc điểm nhân vật thầy Ha-men hiện lên vừa tội nghiệp, đau xót, lại vừa vĩ đại, lớn lao.

    Trước hết, thầy Ha-men là một con người thiết tha yêu ngôi trường và quê hương xứ sở. Đối diện với việc phải rời xa vùng đất An-zát bị chiếm đóng, ánh mắt thầy "đăm đăm nhìn những đồ vật quanh mình". Bốn mươi năm cống hiến, từ chiếc ghế dài nhẵn bóng đến cây hồ đào, cây hu-blông tự tay thầy trồng, tất cả đã trở thành một phần máu thịt. Tiếng đóng hòm xiểng của người em gái ở phòng bên như từng nhát dao cứa vào lòng thầy, khiến con người ấy "nát lòng" vì đau đớn. Nỗi đau của thầy không đơn thuần là sự chia ly một nơi chốn, mà là nỗi đau của một người dân mất nước, phải chứng kiến giặc ngoại bang xóa bỏ ngôn ngữ dân tộc trên chính quê hương mình.

    Dù đau đớn đến tận cùng, thầy Ha-men vẫn hiện lên là một nhà giáo có tinh thần trách nhiệm cao cả và lòng can đảm phi thường. Thầy vẫn giữ vững bục giảng "cho đến hết buổi", dìu dắt các học trò qua từng tiết viết tập, bài Lịch sử và cả những nét chữ vỡ lòng của các cụ già trong làng.

    Khoảnh khắc xúc động và vĩ đại nhất của thầy là khi đồng hồ điểm mười hai giờ, tiếng kèn của quân Phổ vang lên. Thầy "đứng dậy trên bục, người tái nhợt", nghẹn ngào không nói thành lời. Sự bất lực về thể xác đã nhường chỗ cho sức mạnh tinh thần mạnh mẽ. Hành động "cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức", cố viết thật to dòng chữ “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!” là một cú hích tâm lý mạnh mẽ. Dòng chữ ấy không chỉ là lời chào, mà là một lời tuyên ngôn đanh thép về chủ quyền văn hóa, khẳng định rằng nước Pháp và tiếng Pháp sẽ sống mãi. Tư thế "đầu dựa vào tường, và chẳng nói" ở cuối đoạn trích biểu thị một sự kiệt sức vì đau đớn, nhưng trong tâm trí học trò, thầy chưa bao giờ "lớn lao đến thế".

    Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế qua cử chỉ, hành động và ngôn ngữ, Đô-đê đã xây dựng một tượng đài thầy Ha-men bất tử. Thầy không chỉ truyền thụ tri thức, mà đã truyền ngọn lửa yêu nước vào tim các thế hệ người Pháp, nhắc nhở chúng ta về giá trị thiêng liêng của tiếng mẹ đẻ khi đất nước lâm nguy.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn nghị luận phân tích đặc điểm của nhân vật Mickey trong câu chuyện Búp bê đã mỉm cười (Võ Thu Hương)

    Nhà văn Võ Thu Hương từ lâu đã quen thuộc với bạn đọc qua những trang viết ấm áp, giàu tình thương dành cho thế giới tuổi thơ. Trong đó, truyện ngắn Búp bê đã mỉm cười là một nốt nhạc trong trẻo, ngân vang về lòng trắc ẩn giữa con người với con người. Điểm sáng lớn nhất làm nên giá trị nhân văn của tác phẩm chính là nhân vật Mickey – một cô bé học sinh lớp 2/3. Dù còn rất nhỏ tuổi, Mickey đã khiến người đọc vô cùng xúc động bởi một trái tim nhân hậu, biết thấu hiểu và luôn sẵn sàng hành động để bảo vệ niềm vui của người khác.

    Vẻ đẹp đầu tiên của Mickey hiện lên qua sự hồn nhiên, lễ phép và tấm lòng trân trọng người già. Không hề có khoảng cách hay sự e dè trước một cụ già nghèo khổ, khi thấy bà Ngân ngồi bán búp bê ở cổng trường, Mickey cùng bạn đã “nhào tới tay bắt mặt mừng” đầy phấn khích. Trong thế giới trong trẻo của em, những con búp bê khâu từ vải vụn của bà Ngân không hề rẻ rúng mà vô cùng “đẹp lạ”, còn bà cụ thì xứng đáng đứng chung hàng với “những bà tiên nhiều phép thuật”. Sự trân trọng ấy xuất phát từ một tâm hồn thuần khiết, biết nhìn nhận và nâng niu thành quả lao động của người khác.

    Tuy nhiên, nét tính cách đặc sắc nhất ở Mickey chính là sự đồng cảm sâu sắc, biết chuyển hóa tình thương thành hành động thiết thực. Khi chứng kiến cảnh một người mẹ nặng lời chê bai búp bê bẩn rồi vứt lại, khiến bà Ngân buồn tủi thanh minh do "mắt kém", Mickey không chỉ dừng lại ở sự thương hại thoáng qua. Cô bé cảm thấy “thương bà cụ quá” và trăn trở vì không biết làm sao để giúp bà. Chính sự trăn trở ấy đã thôi thúc Mickey chủ động rủ bạn sang nhà bà Ngân vào sáng chủ nhật để mang búp bê đi giặt lại.

    Hình ảnh cô bé Mickey “hí hoáy”, “săm soi chà sạch những vết kẻ phấn lem trên búp bê” liên tục suốt nhiều giờ đồng hồ đến tận quá trưa, quên cả cái đói meo bụng, là một minh chứng hùng hồn cho tình yêu thương chân thành. Em không giúp đỡ một cách hời hợt, mà dồn hết sự tỉ mỉ, chăm chỉ của mình vào từng đường kim, mũi chỉ, từng vết giặt với mong muốn duy nhất: giúp bà cụ kịp có búp bê sạch sẽ để bán vào sáng mai. Sự chu đáo của Mickey còn thể hiện ở việc cẩn thận thắt những chiếc nơ hồng xinh xắn và viết tấm bảng kêu gọi mọi người ủng hộ bà cụ.

    Bằng nghệ thuật khắc họa nhân vật qua hành động và nội tâm tự nhiên, tác giả đã xây dựng thành công một nhân vật Mickey đầy diệu kỳ giữa đời thực. Mickey chính là biểu tượng của lòng nhân ái tuổi thơ – một thứ tình cảm không màu mè, không vụ lợi mà vô cùng thuần khiết. Nhân vật này nhắc nhở mỗi chúng ta rằng, sự tử tế lớn lao nhất đôi khi lại bắt nguồn từ những hành động nhỏ bé nhưng được thực hiện bằng một trái tim trọn vẹn.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật người con trong câu chuyện Hai bát phở bò của Hữu Bằng

    Tình phụ tử luôn là một trong những mạch nguồn cảm xúc thiêng liêng và lay động nhất của văn học. Trong truyện ngắn "Hai bát phở bò" của tác giả Hữu Bằng, người đọc không khỏi thổn thức trước một câu chuyện giản dị nhưng đọng lại biết bao dư vị nhân văn sâu sắc. Giữa không gian lạnh lẽo của một buổi chiều mùa xuân, hình ảnh người con trai – một cậu học trò nghèo trạc mười bảy, mười tám tuổi – hiện lên như một đốm lửa ấm áp. Bằng ngòi bút chân thực và tinh tế, tác giả đã khắc họa thành công một nhân vật không chỉ hiếu thảo, biết hy sinh mà còn sở hữu một lòng tự trọng ngời sáng, đại diện cho nét đẹp nhân cách đạo đức của thế hệ trẻ.

    Vẻ đẹp đầu tiên và rõ nét nhất ở người con chính là lòng hiếu thảo vô bờ bến cùng sự tinh tế hiếm có ở một chàng trai mới lớn. Sống trong cảnh nghèo túng, lại chuẩn bị bước vào kỳ thi tốt nghiệp đầy áp lực, nhưng điều cậu ưu tiên hàng đầu luôn là niềm vui và sự an lòng của người cha mù lòa. Cậu ân cần, cẩn mẫn dìu cha từng bước đi, chăm chút cho cha từng lời nói ấm áp: "Cha, có phở rồi, cha ăn đi thôi, cha cẩn thận kẻo nóng đấy ạ!". Đỉnh cao của sự tinh tế nằm ở lời "nói dối" ngọt ngào và đầy chủ ý tại quán phở. Biết túi tiền eo hẹp không đủ cho hai bữa ăn tươm tất, cậu vẫn cố tình gọi thật to "Cho hai bát phở bò!" để người cha mù lòa không phải mặc cảm hay áy náy về cái nghèo của gia đình. Cái xua tay đầy ẩn ý với người bán hàng để đổi lấy một bát phở không thịt cho mình chính là sự hy sinh thầm lặng nhưng hết sức tự nhiên của một người con hiếu nghĩa. Khi người cha dò dẫm gắp miếng thịt duy nhất qua bát cho con, cậu không từ chối thô bạo làm cha tổn thương, mà lặng lẽ đón nhận rồi âm thầm gắp trả lại. Lời nói dối đáng yêu: "Bát của con đầy ắp không biết để vào đâu rồi đây này" không chỉ giúp người cha ngon miệng mà còn bảo vệ trọn vẹn thế giới tinh thần bình yên của ông.

    Không dừng lại ở một người con hiếu thảo, nhân vật này còn chinh phục trái tim độc giả bởi một nhân cách cao đẹp, tự trọng và vô cùng chín chắn. Khi bất ngờ nhận được đĩa thịt bò từ sự đồng cảm, sẻ chia của bà chủ quán, phản xạ đầu tiên của cậu là sự ngỡ ngàng và ngay lập tức lên tiếng đính chính: "Anh để nhầm bàn rồi thì phải, chúng tôi không gọi thịt bò". Chi tiết này khẳng định người con là một tâm hồn vô cùng trung thực, không tham lam, không có tư tưởng chờ đợi sự ban ơn hay bố thí từ xã hội. Dù sau đó đã nhận đĩa thịt vì lời nói dối khéo léo của bà chủ để giữ thể diện cho hai cha con, cậu vẫn chọn một cách ứng xử cực kỳ tử tế ở phút cuối. Chi tiết đắt giá nhất toàn truyện chính là những tờ tiền giấy được cậu âm thầm đặt lại ngay ngắn dưới đáy bát trước khi rời đi – số tiền vừa vặn với giá trị của đĩa thịt bò. Hành động lặng lẽ ấy là lời khẳng định đanh thép cho lòng tự trọng cao ngút ngàn của một người trí thức nghèo. Cậu trân trọng và đón nhận tấm lòng của chủ quán, nhưng chọn cách sòng phẳng bằng danh dự của chính mình chứ không chấp nhận nhận sự từ thiện vô điều kiện.

    Nhân vật người con trong tác phẩm "Hai bát phở bò" là một hình tượng văn học lay động lòng người, để lại bài học sâu sắc về đạo làm con và cách làm người. Bộ quần áo đơn giản, lộ rõ vẻ nghèo túng bên ngoài hoàn toàn bị lu mờ trước vẻ đẹp thư sinh và tâm hồn ngời sáng bên trong của cậu. Câu chuyện của người con nhắc nhở mỗi chúng ta rằng: hoàn cảnh khó khăn về vật chất có thể thử thách con người, nhưng nó không thể khuất phục hay làm nghèo nàn đi tình yêu thương và lòng tự trọng trong mỗi chúng ta.

    Xem thêm >>
  • Viết bài văn nghị luận phân tích đặc điểm nhân vật trong một truyện ngụ ngôn mà em yêu thích

    Kho tàng truyện ngụ ngôn Việt Nam từ lâu đã trở thành kho tàng triết lý sống vô cùng phong phú, gửi gắm những bài học đạo lý sâu sắc qua hình tượng loài vật. Trong đó, tiêu biểu nhất phải kể đến truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng với nhân vật chú ếch. Qua hình tượng này, cha ông ta không chỉ vạch trần thói kiêu ngạo, hợm hĩnh của những kẻ hiểu biết nông cạn mà còn để lại bài học đắt giá về nhận thức thế giới xung quanh.

    Mở đầu câu chuyện, nhân vật chú ếch hiện lên với một hoàn cảnh sống vô cùng chật hẹp, tù túng. Sống lâu ngày trong một chiếc giếng nhỏ, xung quanh chỉ có vài con nhái, cua, ốc bé nhỏ, ếch ta quen thói coi trời bằng vung. Không gian quanh năm chỉ bé bằng miệng giếng, trời thì nhìn lên thấy bé bằng chiếc vung. Thế nhưng, chính cái môi trường ao tù nước đọng ấy lại nuôi dưỡng trong ếch một sự tự mãn khôn cùng. Nó tự xem mình là chúa tể, cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả không gian và coi thường tất cả các loài vật xung quanh. Sự hạn hẹp về không gian sống đã dẫn đến một sự lệch lạc lớn trong nhận thức: ếch lầm tưởng chiếc giếng nhỏ bé chính là cả vũ trụ bao la và bản thân nó là vị vua oai phong lẫm liệt.

    Bi kịch của chú ếch thực sự bùng nổ khi hoàn cảnh thay đổi. Trời mưa to, nước giếng dềnh lên đưa ếch ta ra ngoài miệng giếng. Đáng lẽ ra, khi bước sang một thế giới rộng lớn hơn, chú ta phải biết ngỡ ngàng, quan sát và học hỏi. Ngược lại, bản tính kiêu ngạo và sự thiếu hiểu biết đã che mờ lý trí của ếch. Nó vẫn giữ nguyên cái nhìn chủ quan, hất hàm coi thường mọi thứ xung quanh và chẳng thèm đếm xỉa gì đến bầu trời bao la ngoài kia. Hậu quả tất yếu đã giáng xuống: ếch ta bị một con trâu đi ngang qua giẫm bẹp dí. Cái chết tức tưởi ấy chính là cái giá phải trả đắt cho kẻ sống ích kỷ, hẹp hòi mà lại ba hoa, ngạo mạn.

    Qua nghệ thuật nhân hóa đặc sắc cùng tình huống truyện bất ngờ, châm biếm, nhân vật chú ếch trong Ếch ngồi đáy giếng mang giá trị biểu tượng sâu sắc. Câu chuyện là lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với những ai có lối sống chủ quan, kiêu ngạo, biết ít nhưng lại tưởng mình biết nhiều. Qua đó, tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta phải luôn giữ thái độ khiêm tốn, không ngừng mở rộng tầm hiểu biết và học hỏi thế giới rộng lớn bên ngoài để không trở thành kẻ "ngồi đáy giếng mà coi trời bằng vung".

    Xem thêm >>
  • Quảng cáo

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...